Việt Nam hiện chưa có số liệu thống kê chính xác về đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP, số lượng doanh nghiệp, lao động hay giá trị xuất nhập khẩu, gây khó khăn trong xây dựng và ban hành chính sách. Đây là thực trạng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng 'dụng cụ đo lường' cho ngành kinh tế mới mẻ này.
Thiếu số liệu gốc, mục tiêu chiến lược khó đánh giá
Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 do Chính phủ ban hành tháng 11/2025 đặt mục tiêu ngành này đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030. Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm: số lượng lao động và cơ sở kinh tế tăng bình quân 10%/năm, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tăng bình quân 7%/năm. Riêng du lịch văn hóa dự kiến chiếm 25% tổng thu du lịch, nghệ thuật biểu diễn đạt doanh thu 10.834 nghìn tỷ đồng.
Tuy nhiên, các con số này không có cơ sở so sánh vì Việt Nam chưa có thống kê tương tự ở thời điểm hiện tại. Báo cáo kinh tế-xã hội năm 2025 và nửa đầu năm 2026 của Cục Thống kê hoàn toàn không xuất hiện số liệu về công nghiệp văn hóa. Mọi suy luận chỉ dựa vào các ngành du lịch, dịch vụ chung, dẫn đến tình trạng dữ liệu 'ước chừng'. Nguyên nhân sâu xa là Việt Nam chưa có công cụ thống kê chuyên biệt, nhiều lĩnh vực đan xen với các ngành kinh tế khác. Ví dụ, thủ công mỹ nghệ gắn với làng nghề, nhưng chỉ cơ sở sản xuất mỹ nghệ mới được tính; việc 'bóc tách' du lịch văn hóa khỏi du lịch nói chung cũng rất khó khăn.
Khó khăn trong hoạch định chính sách
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Ngọc Quyên, Phó Viện trưởng Nghiên cứu sáng tạo (Trường đại học Ngoại thương Hà Nội) nhận định: 'Đối với bất kỳ lĩnh vực nào trong nền kinh tế, chúng ta đều cần đưa ra các quyết định chính sách. Cơ sở để đưa ra chính sách chính là nguồn thông tin đầu vào. Điều này được thể hiện qua các hệ thống chỉ số cho biết ngành, lĩnh vực đó đang phát triển như thế nào. Hiện nay, dữ liệu về công nghiệp văn hóa phân tán ở nhiều cơ quan, thiếu tính đồng bộ, khó kết nối, so sánh; hệ thống phân loại, phương pháp thống kê và cơ chế chia sẻ dữ liệu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý'.
Bất cập này dẫn đến hàng loạt khó khăn khác như không xác định được doanh nghiệp nào thuộc công nghiệp văn hóa, số lượng lao động cụ thể hay ngành nào mang lại giá trị gia tăng cao nhất.
Học hỏi quốc tế, xây dựng thước đo phù hợp
Nhiều quốc gia châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã xây dựng bộ tiêu chí thống kê riêng, làm nền tảng cho chính sách phát triển. Tuy nhiên, Tiến sĩ Phan Đăng Quyết, Hội Thống kê Việt Nam, lưu ý: 'Văn hóa vừa là ngành kinh tế sinh lợi, vừa là công cụ bảo tồn bản sắc và nâng cao giá trị tinh thần nhân dân. Nếu chỉ đo lường bằng các con số kinh tế, chính sách phát triển dễ dẫn đến xu hướng thương mại hóa. Nếu chỉ đo lường bằng các chỉ số như số di tích được xếp hạng, số bảo tàng…, văn hóa sẽ trở thành gánh nặng ngân sách. Chúng ta cần thiết lập một hệ thống thống kê cân bằng giữa đóng góp kinh tế và tác động thụ hưởng văn hóa-xã hội'.
Trên cơ sở đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang chủ trì hoàn thiện dự thảo 'Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế'. Dự thảo gồm 46 chỉ tiêu chia thành các nhóm: đóng góp kinh tế; lao động và nguồn nhân lực sáng tạo; sản phẩm và thị trường; chuyển đổi số và sở hữu trí tuệ; thương mại hóa; nguồn lực và năng lực phát triển. Lần đầu tiên, Việt Nam sẽ áp dụng phương pháp tính tỷ trọng giá trị tăng thêm của các ngành công nghiệp văn hóa trong GDP, tốc độ tăng giá trị tăng thêm, giá trị sản xuất, cũng như thống kê chi tiêu của người dân cho sản phẩm văn hóa và cán cân xuất nhập khẩu.
Hà Nội tiên phong với 95 chỉ tiêu đặc thù
Là một trong hai trung tâm công nghiệp văn hóa lớn nhất cả nước, Hà Nội đang tiên phong xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê riêng. Trên cơ sở dự thảo chung, thành phố bổ sung các vấn đề đặc thù, như là địa phương duy nhất có 11 ngành công nghiệp văn hóa (bổ sung ngành ẩm thực). Bộ chỉ tiêu của Hà Nội có 95 chỉ tiêu cụ thể, bao gồm cả thống kê khu vực kinh tế phi chính thức như nghệ sĩ tự do, nghệ nhân, hộ sản xuất cá thể – những chủ thể đóng góp đáng kể nhưng chưa được quan tâm đúng mức.
Giáo sư Xiang Yong, Đại học Bắc Kinh, góp ý: 'Hà Nội cần xây dựng hệ thống phân loại phù hợp điều kiện của Thủ đô, gắn kết các hoạt động văn hóa với hệ thống phân loại ngành công nghiệp của Việt Nam. Thành phố cần ưu tiên những lĩnh vực góp phần định hình bản sắc văn hóa quốc gia và phát huy các thế mạnh sáng tạo đặc trưng như múa rối nước, âm nhạc dân gian hay nghệ thuật sơn mài'.
Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Trần Hoàng đánh giá: 'Việc xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa được triển khai theo tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở các khuyến nghị của UNESCO, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp cơ quan thống kê rà soát, chuẩn hóa khái niệm, xác định rõ các lĩnh vực và phân tổ thống kê để hình thành hệ thống chỉ tiêu thống nhất. Nếu Hà Nội triển khai thành công Bộ chỉ tiêu thống kê công nghiệp văn hóa, đây sẽ là mô hình tham khảo có giá trị cho các địa phương khác trên cả nước'.
Hà Nội đang tích cực lấy ý kiến các cơ quan, chuyên gia trong nước và quốc tế để sớm hoàn thiện bộ chỉ tiêu, kỳ vọng tạo bước đột phá trong quản lý và phát triển công nghiệp văn hóa.



