Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Văn Hạnh, sinh năm 1967, đã dành hơn 40 năm gắn bó với nghề mây tre đan tại làng Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, Hà Nội. Ông lớn lên cùng tiếng chẻ tre, vót mây và những câu chuyện về làng nghề hơn 400 năm tuổi. Ngay từ khi học lớp 1, lớp 2, ông đã được ông bà, cha mẹ hướng dẫn đan những chiếc giỏ, chiếc đĩa phục vụ xuất khẩu.
Cơ duyên và hành trình giữ nghề
Theo lời kể của nghệ nhân Hoàng Văn Hạnh, từ xa xưa, người dân Phú Vinh sống trên vùng đồng chiêm trũng, sử dụng tre, mây để làm dụng cụ đánh bắt cá và các vật dụng nông nghiệp. Một thương gia người Hoa từng đặt tên vùng đất này là Phú Hoa Trang – miền quê trù phú với những đôi bàn tay tài hoa. Trải qua thời gian, cái tên ấy được đổi thành Phú Vinh và trở thành một trong những làng nghề mây tre đan nổi tiếng của cả nước.
Trong giai đoạn 1960-1980, sản phẩm mây tre đan Phú Vinh từng được xuất khẩu với số lượng lớn sang Đông Âu, đặc biệt là Liên Xô cũ, phục vụ như những loại bao bì thân thiện với môi trường thay thế túi nilon. Qua quá trình lao động và sáng tạo, người dân làng nghề phát triển thêm các sản phẩm ứng dụng như bàn ghế song mây, giường tủ, đèn trang trí, đồ decor cho nhà hàng, khách sạn…
Thách thức về nhân lực và nguyên liệu
“Có những lúc tôi rất nản lòng”, ông Hoàng Văn Hạnh chia sẻ. Nguyên liệu tự nhiên ngày càng khan hiếm do khai thác quá mức, trong khi lực lượng lao động trẻ lại bị thu hút bởi các khu công nghiệp và những ngành nghề khác. Hiện nay, phần lớn những người còn gắn bó với nghề đều đã ở độ tuổi trung niên, khiến bài toán nhân lực kế cận trở thành nỗi trăn trở lớn.
Để khắc phục, ông cùng các cộng sự tìm đến nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa ở Hòa Bình cũ, Sơn La, Mộc Châu, Tuyên Quang để truyền nghề cho bà con. Việc này không chỉ giúp cơ sở có thêm nhân công khi có đơn hàng mà còn tạo sinh kế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho nhiều gia đình khó khăn.
Kỷ niệm xúc động từ chuyến dạy nghề
Điều khiến ông nhớ nhất là chuyến đi dạy nghề tại Kim Bôi (Hòa Bình cũ). Khi ấy, ông gặp một người đàn ông dân tộc Mường ngoài 40 tuổi bị liệt hai chân do tai nạn khi đi khai thác cây rừng. Cuộc sống khó khăn khiến người đàn ông ấy luôn mặc cảm, cho rằng mình trở thành gánh nặng của gia đình. Khi được hướng dẫn làm nghề mây tre đan ngay tại nhà và có thêm thu nhập, người đàn ông ấy đã bật khóc. Anh tâm sự rằng lần đầu tiên sau nhiều năm, anh cảm thấy mình vẫn có ích.
“Khoảnh khắc ấy khiến tôi hạnh phúc vô cùng. Tôi nhận ra rằng giữ nghề không chỉ là tạo ra những sản phẩm đẹp, mà còn là mang đến sinh kế, niềm tin và hy vọng cho nhiều người”, nghệ nhân xúc động chia sẻ.
Sáng tạo từ cảm hứng xanh và chinh phục thị trường quốc tế
Nguồn cảm hứng sáng tạo của nghệ nhân Hoàng Văn Hạnh đến từ cuộc sống thường ngày và xu hướng phát triển bền vững trên thế giới. Ông mong muốn đưa tre, mây trở thành vật liệu xanh trong kiến trúc, du lịch và nghệ thuật. Các sản phẩm tiêu dùng của cơ sở ông hiện đã có mặt tại nhiều thị trường khó tính như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản.
Đặc biệt, ông từng thực hiện một quả cầu bằng mây theo thiết kế của một kỹ sư tại Mỹ. Sản phẩm được chia thành 15 phần nhỏ để thuận tiện vận chuyển và lắp ráp hoàn chỉnh tại Mỹ, phục vụ công tác giảng dạy tại một trường đại học. “Đó là niềm tự hào rất lớn khi sản phẩm thủ công của người Việt được bạn bè quốc tế ghi nhận”, ông nói.
Để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, ông đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt từ khâu lựa chọn nguyên liệu. Tre và mây phải được khai thác đúng tuổi, xử lý cẩn thận trước khi đưa vào sản xuất. Ông cho rằng để nâng tầm thủ công mỹ nghệ Việt Nam, người thợ cần tay nghề cao, không ngừng học hỏi, cập nhật xu hướng mới, chú trọng thiết kế, tính an toàn và thân thiện với môi trường.
Biến xưởng mây tre thành điểm đến trải nghiệm
Không chỉ miệt mài sáng tạo, nghệ nhân Hoàng Văn Hạnh còn mở cửa xưởng sản xuất đón du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm. Với ông, đây là cách để đưa những giá trị của làng nghề truyền thống đến gần hơn với cộng đồng. Trong khuôn viên cơ sở, ông dành nhiều diện tích để trồng tre, mây và các loại cây nguyên liệu, giúp du khách hình dung rõ hơn về hành trình tạo nên một sản phẩm thủ công.
“Tôi muốn khách đến đây không chỉ nhìn thấy những món đồ hoàn thiện mà còn hiểu được nguyên liệu, quy trình làm nghề và tình yêu mà người thợ gửi gắm trong từng sản phẩm”, ông chia sẻ.
Bên cạnh trưng bày hàng trăm sản phẩm, cơ sở thường xuyên tổ chức các workshop dành cho học sinh, sinh viên và khách quốc tế. Lượng khách đến tham quan khá đa dạng: vào mùa làm đồ án, nhiều sinh viên tìm đến nghiên cứu; những ngày cuối tuần, cơ sở đón các đoàn khách quốc tế hoặc khách đi theo tour. Dù hoạt động du lịch phát triển, ông khẳng định mục tiêu chính không phải kinh doanh du lịch đơn thuần: “Mong muốn lớn nhất của tôi là lan tỏa sản phẩm và tình yêu với làng nghề đến nhiều người hơn”.
Cần sự chung tay để bảo tồn bền vững
Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh, Chủ tịch Hội Mây tre đan xã Phú Nghĩa, cho biết nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước đang có nhiều tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là nguồn nhân lực kế cận. Lớp trẻ sinh từ những năm 2000 trở lại đây hầu như không mặn mà với nghề truyền thống, khiến nguy cơ đứt gãy thế hệ trở thành nỗi lo thường trực.
“Đây là điều rất đáng tiếc đối với một làng nghề có lịch sử hàng trăm năm. Nếu không có lớp trẻ kế cận thì việc duy trì và phát triển nghề sẽ gặp rất nhiều khó khăn”, ông bày tỏ.
Hiện nay, một số hộ dân ở Phú Vinh đã kết hợp sản xuất với du lịch trải nghiệm. Nhờ phát triển công nghệ thông tin và mạng xã hội, hình ảnh làng nghề ngày càng được nhiều người biết đến. Lượng du khách tăng dần qua từng năm mang lại tín hiệu lạc quan. Ông Nguyễn Văn Tĩnh nhấn mạnh vai trò của các nghệ nhân như Hoàng Văn Hạnh, nhưng nỗ lực của riêng họ là chưa đủ: “Chúng tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa, nhưng để làng nghề phát triển bền vững thì cần sự chung tay của chính quyền, các nhà nghiên cứu, chuyên gia kinh tế và những người hoạch định chính sách”.
Giữa nhịp sống đổi thay, những người nghệ nhân Phú Vinh vẫn ngày ngày cần mẫn bên tre, mây và những đường đan thủ công. Với họ, giữ nghề là giữ lại ký ức, bản sắc và linh hồn của một làng nghề hơn 400 năm tuổi để trao truyền cho các thế hệ mai sau.



