Tiến sĩ Ngô Đức Phương, Viện trưởng Viện Khoa học thuốc nam, cho biết cây bình bát (Annona reticulata) thuộc họ Na (Annonaceae), có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Caribe, sau đó du nhập vào các vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Tại nước ta, bình bát mọc dại và được trồng phổ biến ở Nam Bộ, xuất hiện nhiều ở vùng đất ven sông, kênh rạch hoặc nơi ngập nước theo mùa.
Ký ức tuổi thơ và đặc điểm nhận dạng
Với người dân miền Tây, bình bát là một phần ký ức tuổi thơ quen thuộc. Trẻ con thường hái quả chín mọng ăn ngay dưới gốc, còn người lớn chế biến thành bánh, sinh tố hoặc dầm đá đường giải nhiệt. Do cùng họ Na, bình bát dễ nhầm với na hay mãng cầu xiêm, nhưng quả thường hình tim hoặc gần tròn, vỏ nhẵn hoặc hơi lưới. Khi chín, vỏ chuyển vàng hoặc nâu vàng, thịt quả mềm, thơm, ngọt thanh và bùi hơn na.
Giá trị dinh dưỡng phong phú
Không chỉ là thức quả giải khát, bình bát sở hữu giá trị dinh dưỡng phong phú: giàu carbohydrate, chất xơ, vitamin C, kali và vitamin nhóm B. “Lượng chất xơ dồi dào tạo cảm giác no lâu và hỗ trợ hệ tiêu hóa hiệu quả. Các hợp chất polyphenol và flavonoid trong bình bát đem lại khả năng chống oxy hóa cao”, Tiến sĩ Phương thông tin.
Ứng dụng trong y học dân gian và nghiên cứu hiện đại
Trong y học dân gian, lá, vỏ thân và hạt bình bát từng xuất hiện trong nhiều bài thuốc. Tại Việt Nam, lá và vỏ thân dùng chữa bệnh ngoài da; quả và hạt trị kiết lỵ, diệt côn trùng; lá tẩy giun, chống viêm. Nghiên cứu hiện đại ghi nhận lá và vỏ chứa flavonoid, tannin, hợp chất phenolic. Chiết xuất cho thấy hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn và gây độc trên một số dòng tế bào ung thư trong phòng thí nghiệm.
Cảnh báo độc tính từ hạt
Tuy nhiên, Tiến sĩ Phương lưu ý: “Người dân tuyệt đối không tự ý sử dụng hạt. Hạt của nhiều loài họ Na, gồm bình bát, chứa acetogenin và alkaloid có hoạt tính sinh học cực mạnh. Trong dân gian, hạt giã nát diệt chấy, rận hoặc côn trùng. Vì độc tính cao, hạt không phải bộ phận để ăn và không nên tự ý dùng làm thuốc để tránh ngộ độc nguy hiểm”.



