Hai Phép Thử Lớn Cho Quyền Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Thủ tướng Chính phủ vừa giao quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho PGS.TS Hoàng Minh Sơn. Ông Sơn nhận nhiệm vụ trong bối cảnh giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu tái cấu trúc mạnh mẽ và cải cách toàn diện.
Thách Thức Tái Cấu Trúc Mạng Lưới Đại Học
Một trong những nhiệm vụ đầu tiên cần giải quyết là tổ chức lại mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học công lập. Hệ thống hiện nay đang tồn tại tình trạng phân tán nguồn lực, với nhiều cơ sở đào tạo quy mô nhỏ, tuyển sinh khó khăn, đội ngũ giảng viên thiếu ổn định nhưng vẫn duy trì ngành nghề trùng lặp với các trường lớn. Trong khi đó, không ít lĩnh vực then chốt lại thiếu trung tâm đào tạo đủ mạnh để tạo đột phá. Việc sáp nhập và tái cấu trúc được xem như bước đi tất yếu.
Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở con số bao nhiêu trường sẽ bị giảm đi, mà sau sắp xếp, hệ thống liệu có mạnh lên? Tâm lý “không muốn bị thôn tính” của các trường nhỏ và sự dè dặt của các trường lớn khi tiếp nhận đơn vị yếu là thực tế cần nhìn nhận. Nếu không có cơ chế phân bổ nguồn lực, tài chính và nhân sự đủ rõ ràng, chủ trương sáp nhập rất dễ vấp phải sự kháng cự ngầm.
Kinh nghiệm từ mô hình hai Đại học quốc gia và các Đại học vùng cho thấy quy mô lớn chỉ phát huy tác dụng khi đi kèm chiến lược học thuật rõ ràng, phân tầng chức năng cụ thể và cơ chế tự chủ thực chất. Khi các trường thành viên được trao quyền học thuật, tài chính và nhân sự tương xứng, đồng thời chịu trách nhiệm giải trình minh bạch, mô hình mới có cơ hội vận hành hiệu quả. Ngược lại, nếu chỉ ghép đầu mối quản lý mà không thay đổi cách thức vận hành, sáp nhập sẽ chỉ tạo ra bộ máy cồng kềnh hơn.
Một rủi ro đáng lưu ý là việc ghép các cơ sở có chất lượng tương đồng đang gặp khó khăn, nhưng không xử lý triệt để các vấn đề cốt lõi như trùng lặp ngành đào tạo, thiếu giảng viên trình độ cao, cơ sở vật chất dàn trải. Khi đó, quy mô tăng lên nhưng năng lực lõi vẫn không thay đổi. Thậm chí, sự xáo trộn nhân sự và tâm lý có thể khiến chất lượng sụt giảm trong ngắn hạn.
Đặt người học ở vị trí trung tâm là nguyên tắc không thể bỏ qua. Sinh viên đang theo học không thể trở thành “biến số” của quá trình cải tổ. Chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo và lộ trình học tập cần được đảm bảo ổn định. Mọi thay đổi phải có giai đoạn chuyển tiếp hợp lý, minh bạch thông tin và có cơ chế hỗ trợ cụ thể. Với giảng viên, việc rà soát vị trí việc làm, đánh giá lại năng lực và thiết kế chính sách đãi ngộ phù hợp là yêu cầu bắt buộc. Nếu không giữ được đội ngũ chất lượng cao, mọi mục tiêu nâng chuẩn chỉ dừng ở khẩu hiệu.
Sắp xếp mạng lưới đại học cũng phải gắn chặt với quy hoạch phát triển vùng và chiến lược nhân lực quốc gia. Những địa phương trọng điểm kinh tế cần trung tâm đào tạo mạnh về công nghệ, kỹ thuật, quản trị hiện đại. Những vùng đặc thù cần tập trung vào nông - lâm - ngư nghiệp, y tế cộng đồng, giáo dục cơ sở. Tái cấu trúc không chỉ là thu gọn đầu mối mà còn là tái định vị vai trò từng cơ sở trong tổng thể phát triển đất nước.
Yêu Cầu Cải Cách Quản Trị Và Tuyển Sinh
Song hành với sáp nhập là yêu cầu điều chỉnh mô hình quản trị. Luật Giáo dục Đại học sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/1 quy định bỏ hội đồng trường tại các trường công lập theo mô hình cũ và xác định người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học theo cơ chế mới. Phần lớn trường đang chờ hướng dẫn cụ thể từ Bộ GD&ĐT để triển khai đồng bộ. Việc chậm ban hành hướng dẫn có thể tạo khoảng trống pháp lý, ảnh hưởng tới hoạt động điều hành và tâm lý đội ngũ. Hiện mới chỉ có các trường đại học trực thuộc Bộ Xây dựng (bao gồm Bộ Giao thông Vận tải cũ) thực hiện xong việc xác định người đứng đầu.
Ở góc độ chuyên gia, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) kỳ vọng tân quyền Bộ trưởng sẽ thúc đẩy cải cách mạnh mẽ giáo dục đại học, triển khai thực chất tinh thần “học thật, nhân tài thật”, tăng cường STEM và thực hiện hiệu quả các nghị quyết quan trọng của Đảng. Ông nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tuyển sinh, nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, phát triển các chương trình cử nhân, kỹ sư tài năng, xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh và thúc đẩy liên kết 4 “nhà”: Nhà nước, nhà trường, nhà khoa học và doanh nghiệp.
Theo ông Đức, mục tiêu đến năm 2030 có trường lọt top 200 thế giới, đến 2035 có trường vào top 100 không phải là tham vọng viển vông nhưng đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ quản trị, tài chính đến học thuật. Tự chủ đại học phải đi kèm trách nhiệm giải trình và cơ chế đầu tư trọng điểm, thay vì dàn trải.
Chia sẻ quan điểm về chuẩn đầu ra, GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng hệ thống giáo dục cần được vận hành bằng các chỉ số cốt lõi, đơn giản nhưng hiệu quả, thay vì chạy theo hình thức. Tuyển sinh đại học tác động sâu rộng tới mọi gia đình và học sinh lớp 12, vì vậy thông tin định hướng phải minh bạch và ổn định.
Có thể thấy từ sáp nhập đại học, cải cách quản trị đến đổi mới tuyển sinh, tất cả đều xoay quanh một trục chung: nâng cao chất lượng thực chất của hệ thống. Những thay đổi ngắn hạn là cần thiết để tạo nền tảng cho ổn định trung và dài hạn. Nhưng cải cách chỉ thành công khi được thực hiện có lộ trình, có dữ liệu đánh giá độc lập và có sự đồng thuận xã hội.
Với tân quyền bộ trưởng, đây không chỉ thách thức điều hành, mà là phép thử về năng lực dẫn dắt một cuộc tái cấu trúc toàn diện. Thành công sẽ không được đo bằng số lượng trường bị giải thể hay hợp nhất, mà bằng chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên, bằng số công trình nghiên cứu có giá trị, bằng mức độ đóng góp của giáo dục đại học vào tăng trưởng kinh tế và vị thế quốc gia.



