Gần 3.000 hợp tác xã có doanh nghiệp trực thuộc
Trong hơn 22.000 hợp tác xã nông nghiệp đang hoạt động trên cả nước, gần 3.000 hợp tác xã đã thành lập doanh nghiệp trực thuộc để cung cấp dịch vụ đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho thành viên. Đây là một trong những chuyển động quan trọng, phản ánh xu hướng chuyển từ tư duy sản xuất thuần nông sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Việc có doanh nghiệp trực thuộc giúp hợp tác xã thực hiện các hợp đồng lớn, tiếp cận thị trường bài bản hơn và tăng sức cạnh tranh cho nông sản.
Mô hình này tạo ra cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, giúp nông dân không còn bị động trong khâu tiêu thụ. Đồng thời, doanh nghiệp trực thuộc cũng là công cụ để hợp tác xã huy động vốn, mở rộng quy mô và đầu tư vào chế biến sâu.
Bài học từ vùng cam Tuyên Quang
Tuyên Quang là một trong những vùng trồng cam lớn của khu vực miền núi phía Bắc, tuy nhiên thương hiệu cam của địa phương từng gặp nhiều khó khăn do sản xuất phụ thuộc vào phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, chị Nguyễn Thị Cẩm Ly, Giám đốc Hợp tác xã Cam sành Sơn Nữ tại xã Nà Hang, đã tiên phong liên kết với nông dân để phát triển vùng trồng cam theo hướng hữu cơ.
Chị Ly trực tiếp xuống ở cùng nông dân, hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng niềm tin và từng bước hình thành nhóm liên kết với cơ chế giám sát lẫn nhau. Khi sản phẩm có thị trường ổn định, người dân dần thay đổi nhận thức, chủ động tham gia sản xuất theo quy trình chung. Đến nay, cam sành mang thương hiệu Sơn Nữ đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Không dừng lại ở sản xuất hữu cơ, hợp tác xã còn ứng dụng chuyển đổi số để quảng bá, truy xuất nguồn gốc và mở rộng kênh tiêu thụ.
Hợp tác xã rau an toàn Tứ Xã: Liên kết tạo giá trị bền vững
Tại tỉnh Phú Thọ, Hợp tác xã Rau an toàn Tứ Xã thành lập năm 2015 ở xã Phùng Nguyên là một điển hình. Hợp tác xã hiện có hơn 100 thành viên và hộ liên kết, sản xuất trên diện tích hơn 20 ha rau đạt chuẩn VietGAP. Người nông dân tham gia được tập huấn kỹ thuật, sử dụng chế phẩm sinh học, ghi nhật ký sản xuất và tuân thủ quy trình an toàn nghiêm ngặt.
Nhờ ký hợp đồng tiêu thụ với trường học, doanh nghiệp, siêu thị và cửa hàng, rau của hợp tác xã có giá cao hơn thị trường từ 1.500 đến 2.000 đồng mỗi kg. Ông Nguyễn Văn Nghĩa, Giám đốc hợp tác xã, cho biết: “Liên kết sản xuất giúp thay đổi tư duy canh tác, nâng cao ý thức sử dụng vật tư nông nghiệp an toàn, đồng thời bảo đảm tiêu thụ khoảng 80-90% sản lượng với mức giá ổn định, tạo động lực để nông dân yên tâm gắn bó lâu dài với sản xuất rau an toàn của hợp tác xã.”
Hợp tác xã đóng vai trò 'nhạc trưởng' trong chuỗi giá trị
Kết quả kinh doanh của các hợp tác xã trên chứng minh rằng liên kết sản xuất đang tạo động lực hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn, bảo đảm đồng đều về sản lượng và chất lượng nông sản. Thị trường chính là thước đo hiệu quả của mọi mô hình sản xuất. Muốn nông sản có tính cạnh tranh, hợp tác xã không chỉ tổ chức sản xuất mà còn phải đóng vai trò “nhạc trưởng”, nắm bắt nhu cầu thị trường, xây dựng kế hoạch sản xuất, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng và kết nối tiêu thụ.
Theo Tiến sĩ Đào Thế Anh, chuyên gia chính sách nông nghiệp, trong bối cảnh nông nghiệp chuyển sang hướng sinh thái và phát triển bền vững, hợp tác xã là mắt xích không thể thiếu để đưa nông sản vào thị trường. Đây là lực lượng tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, giảm sử dụng hóa chất, phát triển sản phẩm hữu cơ, dán nhãn sinh thái và liên kết với doanh nghiệp chế biến. Doanh nghiệp không thể thu mua từ từng hộ nông dân riêng lẻ, vì vậy hợp tác xã chính là đầu mối tập hợp vùng nguyên liệu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị.
Nhà nước kiến tạo hệ sinh thái, không hỗ trợ dàn trải
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Phú Thọ Bùi Duy Linh nhấn mạnh, phát triển liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản là giải pháp trọng tâm để nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới. Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Sở tập trung hỗ trợ các hợp tác xã và nông dân ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi liên kết, từ quản lý vùng trồng, kiểm soát chất lượng đến xúc tiến thương mại.
Các cơ quan chuyên môn trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, giúp nông dân tiếp cận các nền tảng thương mại điện tử và mở rộng thị trường tiêu thụ. Đây được xem là bước đi cần thiết để thúc đẩy chuỗi liên kết không chỉ cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ mà còn có thể nhân rộng trong toàn ngành nông nghiệp.
Ở tầm vĩ mô, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn Lê Đức Thịnh cho rằng, hợp tác xã sẽ là hạt nhân tổ chức các vùng nguyên liệu đạt chuẩn, liên kết nông dân với doanh nghiệp để sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế. Về phía Nhà nước, trọng tâm không còn là hỗ trợ dàn trải mà chuyển sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển thông qua đầu tư các dịch vụ công thiết yếu như cấp mã số vùng trồng, chứng nhận chất lượng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu và hỗ trợ chuyển giao khoa học-công nghệ.
Cách tiếp cận này giúp giảm chi phí tuân thủ, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo điều kiện để nông sản Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Hướng đi đúng cho nông nghiệp bền vững
Liên kết chuỗi tạo nên sức mạnh đủ để sản xuất theo đơn đặt hàng, theo nhu cầu tiêu dùng đang là hướng đi đúng và trúng trong phát triển nông nghiệp bền vững. Hướng đi này không chỉ giảm rủi ro trong tiêu thụ mà còn góp phần mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả của kinh tế hợp tác trong giai đoạn mới.
Nhìn tổng thể, việc nhân rộng các mô hình liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp và nông dân không chỉ giúp nâng cao giá trị nông sản mà còn tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và hội nhập. Sự thay đổi tư duy từ “bán nông sản thô” sang “kinh doanh theo nhu cầu” chính là chìa khóa để người nông dân làm chủ công nghệ và nâng cao thu nhập ổn định.



