Sau gần ba thập kỷ phát triển, ngành chế biến gỗ Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt hơn 17 tỷ USD. Việt Nam đứng thứ 5 thế giới, thứ 2 châu Á và dẫn đầu Đông Nam Á về xuất khẩu mặt hàng này.
Nút thắt nguồn nguyên liệu gỗ lớn
Tuy nhiên, đằng sau những con số ấn tượng ấy là bài toán thiếu nguồn gỗ lớn cho chế biến sâu, một điểm nghẽn đang làm giảm sức cạnh tranh của toàn ngành. Theo ông Nguyễn Thế Mai, Tổng Giám đốc Công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm (Tập đoàn TH), khó khăn lớn nhất của ngành chế biến sâu hiện nay là thiếu hụt nguồn nguyên liệu gỗ lớn cả về số lượng và chất lượng, cùng với những bất cập trong cơ chế, chính sách.
Việc thu mua và xuất khẩu dăm gỗ với khối lượng lớn đã làm giảm nguồn nguyên liệu dành cho chế biến sâu. Điều này cũng khiến người trồng rừng duy trì mô hình khai thác ngắn ngày, chủ yếu trồng keo tràm để bán dăm gỗ, thay vì đầu tư phát triển rừng gỗ lớn có giá trị kinh tế cao hơn. Hệ quả là nguồn nguyên liệu trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành chế biến sâu. Phần lớn diện tích rừng trồng hiện nay là gỗ nhỏ, được khai thác sau 3-4 năm. Trong khi đó, các doanh nghiệp chế biến sâu lại cần nguồn gỗ lớn, có chu kỳ khai thác từ 7 năm trở lên, chất lượng ổn định để sản xuất đồ nội thất, ván kỹ thuật và các sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao.
Sự mất cân đối giữa cung và cầu nguyên liệu khiến nguồn gỗ lớn ngày càng khan hiếm. Nhiều doanh nghiệp phải cạnh tranh quyết liệt để thu mua trong nước. Một số khác thậm chí phải nhập khẩu gỗ với chi phí cao, làm gia tăng giá thành sản xuất và giảm sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Áp lực từ thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu lớn như Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và Nhật Bản ngày càng siết chặt yêu cầu về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững đối với sản phẩm gỗ. Nhiều diện tích rừng trồng trong nước vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. “Doanh nghiệp gặp khó trong hoàn thiện hồ sơ truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của đối tác và mở rộng thị trường xuất khẩu,” ông Mai nêu rõ.
Còn theo ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), việc người dân khai thác rừng sau 3-5 năm là phản ứng hợp lý trước tín hiệu của thị trường. Phần lớn hộ trồng rừng có diện tích đất nhỏ và phân tán. Rừng là một trong số ít tài sản có thể chuyển thành tiền để trang trải chi phí sinh hoạt, học hành, chữa bệnh hoặc tái đầu tư. Nếu kéo dài chu kỳ lên 7-15 năm, người dân phải chấp nhận “chôn” vốn lâu hơn, đồng thời đối mặt với nhiều rủi ro như bão, cháy, sâu bệnh, gãy đổ và biến động thị trường.
Trong khi đó, khả năng tiếp cận tín dụng dài hạn còn hạn chế, bảo hiểm rừng chưa phát triển và chênh lệch lợi nhuận giữa gỗ nhỏ và gỗ lớn chưa đủ rõ để bù đắp rủi ro. Bên cạnh đó, thị trường dăm gỗ vẫn có sức hấp dẫn nhờ tiêu thụ nhanh, yêu cầu kỹ thuật không phức tạp và hệ thống thu mua rộng. Hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng rừng nguyên liệu nhìn chung chưa cao, nếu tính trên mỗi ha đất lâm nghiệp cũng như xét đến thời gian đầu tư, chi phí vốn và rủi ro thiên tai, sâu bệnh. Nhiều doanh nghiệp gỗ xác định tiếp tục phụ thuộc đáng kể vào gỗ nhập khẩu trong tương lai gần.
Tạo động lực phát triển rừng gỗ lớn
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, để giải quyết bài toán này cần xử lý đồng thời bốn nhóm nguyên nhân gốc rễ: đất đai phân tán và quy mô sản xuất nhỏ; hiệu quả kinh tế của gỗ lớn chưa đủ hấp dẫn; giống và kỹ thuật lâm sinh chưa đáp ứng chu kỳ dài; liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với người trồng rừng và hợp tác xã còn lỏng lẻo.
Một trong những chuyển đổi quan trọng nhất là thay đổi tư duy từ “trồng cây rồi khai thác” sang “quản lý rừng”. Thay vì coi rừng như cây trồng ngắn ngày để quay vòng vốn nhanh, mô hình quản lý rừng hướng tới quản lý rừng như một tài sản dài hạn, lựa chọn giống phù hợp, tối ưu mật độ trồng, thực hiện tỉa cành, tỉa thưa, quản lý sâu bệnh, bảo vệ đất và nước, quản lý carbon và khai thác theo mục tiêu chất lượng. Người trồng rừng khi đó không chỉ bán sinh khối theo tấn mà còn có thể bán gỗ theo đường kính, chất lượng, chứng chỉ và khả năng chế biến.
“Phát triển rừng gỗ lớn chỉ có thể thành công nếu người trồng rừng nhìn thấy lợi ích kinh tế rõ ràng và có khả năng quản trị rủi ro. Do đó, cần xây dựng tín dụng xanh dài hạn phù hợp với chu kỳ rừng 7-15 năm; phát triển bảo hiểm rừng đối với bão, cháy, sâu bệnh và gãy đổ; hỗ trợ các mô hình 'lấy ngắn nuôi dài' thông qua nông - lâm kết hợp, tỉa thưa hoặc sinh kế dưới tán rừng,” ông Hoài nhấn mạnh.
Giải pháp từ doanh nghiệp và cơ quan quản lý
Ở góc độ doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm kiến nghị Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu điều chỉnh thuế xuất khẩu dăm gỗ theo lộ trình từ mức hiện hành lên khoảng 5-10% nhằm hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô và khuyến khích chế biến sâu. Đồng thời, cần xem xét áp dụng hạn ngạch xuất khẩu dăm gỗ tại những địa phương có nguy cơ thiếu nguyên liệu, chỉ cho phép xuất khẩu phần sản lượng vượt nhu cầu chế biến trong nước. Doanh nghiệp cũng đề xuất rà soát, siết chặt việc quản lý hồ sơ pháp lý và truy xuất nguồn gốc đối với các cơ sở thu mua, chế biến và xuất khẩu dăm gỗ, bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp xuất khẩu nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến sâu.
Về lâu dài, theo ông Nguyễn Thế Mai, cần có chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu chất lượng cao thông qua đa dạng hóa giống cây trồng thay vì phụ thuộc chủ yếu vào keo chu kỳ ngắn. Việc mở rộng các giống gỗ lớn như bạch đàn, thông và các loài cây có chu kỳ khai thác dài sẽ góp phần tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho ngành chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn của những thị trường xuất khẩu có yêu cầu cao như EU và Mỹ.
Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng để đạt mục tiêu 25 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vào năm 2030, ngành gỗ không chỉ cần mở rộng thị trường. Thời gian tới, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sẽ tập trung phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn, nâng cao năng suất và giá trị rừng trồng; mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững; xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ bằng công nghệ số đáp ứng yêu cầu của các thị trường như EU; tăng cường liên kết giữa chủ rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp để hình thành vùng nguyên liệu ổn định.
Đồng thời, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục hoàn thiện các chính sách về tín dụng, đầu tư, bảo hiểm rừng, dịch vụ môi trường rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon; kiểm soát chặt nguồn gỗ nhập khẩu, ưu tiên sử dụng nguyên liệu hợp pháp trong nước nhằm từng bước nâng cao tính tự chủ của ngành. “Đây cũng là những định hướng trọng tâm trong Quy hoạch Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, hướng tới xây dựng chuỗi cung ứng gỗ bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế,” ông Nguyễn Văn Diện nhấn mạnh.
Thiếu hụt gỗ lớn: thống kê cụ thể
Theo ước tính của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, tổng nhu cầu nguyên liệu quy đổi cho bốn nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực năm 2025 vào khoảng 59,5 triệu m³. Trong đó, dăm gỗ và viên nén chiếm tới 46,5 triệu m³, tương đương 78,1%; còn ván công nghiệp và đồ gỗ xuất khẩu chỉ chiếm 13 triệu m³, tương đương 21,9%. Ngành gỗ không thiếu sinh khối mà đang thiếu nguồn gỗ lớn có chất lượng cao phục vụ chế biến sâu.



