Thị trường vốn đang trở thành nút thắt quan trọng của nền kinh tế Việt Nam khi dòng tiền chưa được phân bổ hiệu quả, lệch hẳn về tín dụng ngân hàng và thiếu các kênh dẫn vốn trung, dài hạn. Việc tái cấu trúc thị trường tài chính, khơi thông dòng vốn và nâng cao năng lực nội sinh được xem là điều kiện then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
Bốn nguyên tắc lớn cho tăng trưởng thực chất
PGS.TS.ĐBQH Trần Hoàng Ngân - Đoàn ĐBQH Tp.HCM nhấn mạnh: Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần quán triệt bốn nguyên tắc lớn mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề ra.
Thứ nhất, tăng trưởng phải là tăng trưởng thực chất, dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hàm lượng tri thức. Đây là cốt lõi, không phải tăng trưởng theo chiều rộng chỉ dựa vào gia tăng vốn đầu tư. Nâng cao năng suất lao động là yếu tố then chốt.
Thứ hai, tăng trưởng phải đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô, là điều kiện tiên quyết để duy trì niềm tin thị trường và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính, tiền tệ.
Thứ ba, cần huy động các nguồn lực trong xã hội, khơi thông các dòng chảy nguồn lực, không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước hay đầu tư công. Vốn đầu tư công chỉ chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nên duy trì ở mức 16-20% để ổn định vĩ mô. Quan trọng hơn là khơi thông các nguồn lực còn lại.
Thứ tư, mọi thành quả tăng trưởng phải hướng tới phục vụ người dân, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Khơi thông dòng vốn và xử lý dự án tồn đọng
Trong bối cảnh hiện nay, khơi thông dòng vốn là một trong những điểm nghẽn lớn cần ưu tiên tháo gỡ. Việc triển khai các nghị quyết của Quốc hội nhằm xử lý các dự án tồn đọng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhiều dự án đã đầu tư đến 50%, 80%, thậm chí 90%, chỉ cần bổ sung thêm một phần nguồn lực là có thể hoàn thành và đưa vào sử dụng, tạo hiệu quả lan tỏa lớn, đúng tinh thần vốn bỏ ít nhưng hiệu quả cao.
Không chỉ thúc đẩy tăng trưởng, việc giải quyết các dự án dở dang còn góp phần xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng, giảm chi phí xã hội, giảm áp lực lãi suất và tạo điều kiện thuận lợi cho huy động vốn. Đây cũng là cơ hội thúc đẩy tái cơ cấu thị trường tài chính.
Tái cơ cấu thị trường tài chính
Cơ cấu thị trường tài chính Việt Nam còn mất cân đối khi tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng rất lớn, tương đương khoảng 145% GDP. Trong khi đó, vốn hóa thị trường cổ phiếu chỉ khoảng 70-80% GDP, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10% và trái phiếu chính phủ khoảng 20%. Điều này cho thấy sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng.
Cần tái cơ cấu thị trường tài chính theo hướng giảm dần tỷ trọng tín dụng ngân hàng và nâng cao vai trò của thị trường vốn. Muốn vậy, cần hoàn thiện thể chế cởi mở hơn để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán, đồng thời đẩy nhanh xây dựng khung pháp lý cho các trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cần sớm khơi thông trở lại thông qua phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm, hoàn thiện cơ chế bảo lãnh và nâng cao tính minh bạch. Khi các kênh dẫn vốn này phục hồi, doanh nghiệp sẽ có thêm lựa chọn huy động vốn trung và dài hạn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
ĐBQH Nguyễn Hải Nam - Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng: Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, cần có thêm giải pháp mạnh mẽ về huy động và phân bổ nguồn lực.
Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam vào khoảng 6,4%, khá cao. Nếu kéo giảm xuống còn khoảng 4,5%, hiệu quả đầu tư sẽ cải thiện đáng kể, giảm áp lực về tổng vốn cần huy động. Nếu ICOR ở mức 4,5%, tổng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế sẽ vào khoảng 40% GDP, tương đương hơn 200 tỷ USD.
Nền kinh tế hiện phụ thuộc lớn vào hai kênh dẫn vốn chủ yếu là tín dụng ngân hàng và thị trường vốn. Áp lực từ hệ thống ngân hàng rất đáng lưu ý khi tỷ lệ dư nợ đã lên tới khoảng 145% GDP, cao hơn so với Malaysia hay Thái Lan (khoảng 110% GDP), tiềm ẩn rủi ro về nợ xấu và an toàn hệ thống tài chính.
Cần phát triển đồng bộ thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu, thông qua một số nhóm giải pháp trọng tâm:
- Hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến đầu tư, bảo hiểm, tổ chức tín dụng và trái phiếu, quản lý cân bằng để phát huy vai trò kênh dẫn vốn.
- Nâng cao tính công khai, minh bạch của thị trường trái phiếu, khuyến khích xếp hạng tín nhiệm.
- Phát triển mạnh hệ thống nhà đầu tư tổ chức và các trung gian tài chính như quỹ đầu tư trái phiếu, quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, giảm phụ thuộc vào nhà đầu tư cá nhân. Nghiên cứu thí điểm thành lập quỹ đầu tư quốc gia.
- Thúc đẩy phát triển các loại hình trái phiếu mới như trái phiếu xanh, trái phiếu hạ tầng xanh, trái phiếu chính quyền địa phương.
- Vận hành hiệu quả thị trường trái phiếu thứ cấp, xây dựng đường cong lợi suất, ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong dự báo và định giá.
Trung tâm tài chính quốc tế: Cầu nối dòng vốn
ĐBQH Phan Duy Anh - Đoàn ĐBQH Tp.Đà Nẵng nhấn mạnh: Trong bối cảnh tăng trưởng cao và bền vững, việc hình thành các thiết chế tài chính hiện đại kết nối nguồn vốn trong nước và quốc tế mang ý nghĩa chiến lược. Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam có vai trò then chốt trong truyền dẫn dòng vốn quốc tế cho các lĩnh vực ưu tiên, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển hạ tầng, thúc đẩy thị trường bất động sản nghỉ dưỡng, quản lý tài sản bền vững và hỗ trợ chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh.
Trung tâm này có thể kết nối các nhà đầu tư quốc tế với danh mục dự án trọng điểm của doanh nghiệp lớn và các tỉnh, chuyển hóa nhu cầu vay vốn, góp vốn của các dự án địa phương thành sản phẩm tài chính chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế như trái phiếu xanh, quỹ tín thác, chứng khoán hóa dòng tiền tương lai. Qua đó tháo gỡ nhu cầu vốn đầu tư lớn cho phát triển kinh tế, đạt mức tăng trưởng trên hai con số.
Trung tâm tài chính quốc tế còn là kênh thông tin lớn về thị trường, đối tác, nguồn cung ứng, kích thích đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp có điều kiện giảm chi phí vốn, nâng cao quản trị tài chính, mở rộng đầu tư và tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, công nghệ, xanh sẽ có không gian thử nghiệm và phát triển mô hình tài chính mới, tạo sản phẩm dịch vụ giá trị gia tăng cao, tạo động lực tăng trưởng chung.
Nâng cao năng lực nội sinh và phát triển khu vực tư nhân
ĐBQH Nguyễn Như So - Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh chỉ ra: Một trong những điểm nghẽn lớn là năng lực nội sinh còn hạn chế. Tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành thấp, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI chưa chặt chẽ. Khoảng 90% doanh nghiệp tư nhân là nhỏ và siêu nhỏ, hoạt động ở phân khúc giá trị gia tăng thấp. Nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào động lực bên ngoài, chưa hình thành nền tảng nội lực đủ mạnh.
Phát triển kinh tế khu vực tư nhân là lựa chọn chiến lược, lực lượng then chốt nâng cao sức chống chịu và năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần tái cấu trúc cơ chế dẫn vốn, bảo đảm dòng vốn phân bổ đúng địa chỉ, phục vụ trực tiếp động lực tăng trưởng. Vốn đầu tư là trụ cột quan trọng trong bối cảnh động lực công nghệ và năng suất chưa bứt phá ngay ngắn hạn.
Vấn đề không phải thiếu vốn mà là cách phân bổ và sử dụng chưa hiệu quả. Nguyên nhân cốt lõi là sự lệch pha kỳ hạn khi nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào vốn ngắn hạn của ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu trung và dài hạn. Việc lấy ngắn nuôi dài gây áp lực thanh khoản và khiến dòng vốn không chảy vào khu vực có giá trị gia tăng cao.
Cần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển thực chất thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn đúng nghĩa. Hình thành thị trường tái cấp vốn thứ cấp thông qua chứng khoán hóa các khoản vay, phát triển thị trường mua bán nợ minh bạch, chuyên nghiệp.
Nghiên cứu áp dụng cơ chế thuế âm cho hoạt động đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn đầu. Có cơ chế hợp tác công tư (PPP) linh hoạt, minh bạch hơn, mỗi đồng vốn ngân sách có khả năng dẫn dắt huy động thêm nhiều đồng vốn xã hội, hình thành cơ chế lựa chọn, nuôi dưỡng và phát triển các doanh nghiệp đầu tàu trong những ngành then chốt.



