Sáng 3/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã trình Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Dự thảo chỉ gồm 2 Điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung 35 điều và bãi bỏ 2 điều của luật hiện hành; Điều 2 quy định điều khoản thi hành. Toàn bộ các sửa đổi được nhóm thành 6 nội dung lớn, trong đó nổi bật là quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thủ tục giải quyết bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
Hai phương án xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường
Theo Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng, dự thảo luật kế thừa quy định “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này”, đồng thời bổ sung quy định trường hợp luật khác quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì việc xác định phạm vi áp dụng theo luật đó. Việc bổ sung này nhằm bảo đảm tính khả thi, khắc phục mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với thực tiễn lập pháp của Quốc hội thời gian qua.
Bộ trưởng cũng cho rằng quy định mới sẽ tạo sự linh hoạt trong hoạt động lập pháp, giúp Quốc hội kịp thời phản ứng chính sách khi thực tiễn đòi hỏi cần quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại các luật khác. Điều này cũng bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, tránh tình trạng nhiều luật phải sửa đổi để thay cho Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Tuy nhiên, xung quanh nội dung này vẫn còn ý kiến khác nhau, nên Chính phủ đã trình Quốc hội hai phương án để tiếp tục thảo luận, cho ý kiến. Cụ thể:
- Phương án 1: Bổ sung quy định “Trường hợp luật khác quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước áp dụng theo luật đó”.
- Phương án 2: Giữ nguyên như quy định hiện hành, chỉ quy định “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này”.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nghiêng về giữ nguyên quy định hiện hành
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban tán thành phương án 2, tức giữ nguyên nguyên tắc áp dụng pháp luật hiện hành. Ông Phan Chí Hiếu nhấn mạnh, nguyên tắc “việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này” đã được quy định và thực hiện nhất quán từ khi ban hành luật đến nay, là căn cứ quan trọng để xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường cần được tập trung ngay trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bảo đảm minh bạch, khả thi, tránh tình trạng mở rộng không có căn cứ ở các luật khác. Dù vậy, một số ý kiến trong cơ quan thẩm tra lại cho rằng, trong bối cảnh thực tiễn có nhiều biến động, phương án 1 sẽ linh hoạt hơn trong việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường, bảo đảm tính kịp thời và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Đơn giản hóa thủ tục, tăng thời hiệu khởi kiện
Về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, dự thảo luật được sửa đổi, bổ sung theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quá trình giải quyết. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định về việc ban hành quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp thương lượng không thành, đồng thời tăng thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
Liên quan đến kinh phí bồi thường, dự thảo quy định theo hướng cơ quan giải quyết bồi thường ở cấp nào thì ngân sách cấp đó có trách nhiệm cấp kinh phí. Ngoài ra, dự thảo cũng quy định về kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước.
Mức hoàn trả từ 30 đến 50 tháng lương
Một nội dung quan trọng khác là trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ. Theo dự thảo luật, người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hoàn trả từ 30 đến 50 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả, nhưng tối đa là 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh: “Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, dự thảo Luật bổ sung quy định miễn trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp cụ thể như: lập công lớn, mắc bệnh hiểm nghèo; lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn”.
Dự thảo luật cũng xác định rõ người thi hành công vụ là người được tuyển dụng, bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm hoặc chỉ định theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án, hoặc người khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án.



