Bộ Nội vụ vừa ban hành công văn hướng dẫn các bộ, ngành và địa phương cách xác định tỷ lệ 50% công chức giữ ngạch chuyên viên chính trong tổng số công chức của cơ quan, tổ chức. Văn bản này được xem là căn cứ pháp lý quan trọng giúp các đơn vị xây dựng đề án vị trí việc làm, tiến tới cơ cấu lại đội ngũ công chức theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Cách tính tỷ lệ 50% theo hướng dẫn mới
Cụ thể, công văn nêu rõ: tổng số công chức ngạch chuyên viên chính được tính trên cơ sở biên chế được giao của từng cơ quan, đơn vị tại thời điểm lập đề án. Số công chức này bao gồm những người đang giữ ngạch chuyên viên chính và những người đã có đủ điều kiện, tiêu chuẩn được xét bổ nhiệm hoặc nâng ngạch trong năm kế hoạch. Cách tính này áp dụng thống nhất cho tất cả các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.
Ví dụ, nếu một cơ quan được giao 100 biên chế công chức, số công chức tối đa giữ ngạch chuyên viên chính sẽ là 50 người. Trường hợp cơ quan đó đang có 60 công chức giữ ngạch này, họ phải xây dựng kế hoạch để giảm dần về mức 50%, thông qua việc không bổ nhiệm mới, tăng cường luân chuyển hoặc bố trí sang các vị trí việc làm khác phù hợp.
Các nguyên tắc áp dụng
Bộ Nội vụ lưu ý, khi tính số lượng công chức ngạch chuyên viên chính, các cơ quan không được tính vào chỉ tiêu những công chức đang trong thời gian tập sự, điều động, biệt phái hay nghỉ chế độ. Việc xác định phải dựa trên danh sách công chức thực tế tại đơn vị đang công tác, có quyết định bổ nhiệm ngạch hoặc tuyển dụng chính thức.
Ngoài ra, với những đơn vị đặc thù như Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án, Viện kiểm sát hoặc lực lượng vũ trang, Bộ Nội vụ cho phép áp dụng tỷ lệ cao hơn nếu được Thủ tướng Chính phủ hoặc cấp có thẩm quyền cho phép. Tuy nhiên, việc điều chỉnh này không được làm thay đổi tổng số biên chế được giao, đồng thời phải bảo đảm không trái với quy định của pháp luật chuyên ngành.
Trách nhiệm của các cơ quan sử dụng công chức
Theo công văn, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của số liệu khi xác định tỷ lệ ngạch chuyên viên chính. Các cấp phải thường xuyên rà soát, cập nhật biến động công chức để báo cáo cơ quan quản lý cấp trên theo đúng thời gian quy định. Việc chậm trễ hoặc kê khai sai số liệu có thể ảnh hưởng đến tiến độ phê duyệt đề án vị trí việc làm của toàn hệ thống.
Đối với những cơ quan có số công chức ngạch chuyên viên chính thấp hơn 50%, đơn vị có thể đề xuất tuyển dụng hoặc thi nâng ngạch trong phạm vi chỉ tiêu biên chế được giao. Ngược lại, các đơn vị vượt trần phải xây dựng lộ trình tinh giản rõ ràng, gắn với Đề án tinh giản biên chế giai đoạn 2022-2030 mà Chính phủ đã ban hành.
Ảnh hưởng đến công tác cán bộ tại địa phương
Nhiều địa phương hiện có số công chức ngạch chuyên viên chính chiếm tỷ lệ lớn do quá trình tích lũy nhiều năm. Vì vậy, việc siết chặt trần 50% có thể dẫn đến tình trạng "đóng băng" nâng ngạch trong một số cơ quan. Tuy nhiên, Bộ Nội vụ khẳng định đây là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm cơ cấu ngạch hợp lý, hạn chế tình trạng thừa cán bộ lãnh đạo, thiếu cán bộ thừa hành. Các đơn vị cần chủ động sắp xếp lại vị trí việc làm, bố trí công chức phù hợp với năng lực để thực hiện nhiệm vụ được giao.
Bên cạnh đó, công văn cũng nhấn mạnh việc công khai, minh bạch trong quy trình xác định tỷ lệ và danh sách công chức thuộc diện ngạch chuyên viên chính. Điều này nhằm tránh khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác cán bộ, đồng thời tạo sự đồng thuận trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Bối cảnh cải cách chế độ công vụ
Quy định về tỷ lệ 50% ngạch chuyên viên chính nằm trong tổng thể cải cách chế độ công vụ, công chức. Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định sửa đổi, bổ sung liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện thi nâng ngạch, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ thực thi công vụ. Việc Bộ Nội vụ có hướng dẫn chi tiết về cách tính là bước cụ thể hóa chủ trương này, giúp các cơ quan áp dụng thống nhất và tránh cách hiểu khác nhau.
Được biết, trong thời gian tới, Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục theo dõi, kiểm tra việc thực hiện của các bộ, ngành, địa phương; đồng thời nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh các bất cập nếu có trong quá trình triển khai, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thực tiễn.



