Ngày 30/7, tại Hà Nội, Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) tổ chức Hội thảo “Triển khai công tác phòng, chống ung thư vú và ung thư tử cung khu vực phía bắc”. Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo các vụ, cục trực thuộc Bộ Y tế, Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật 19 tỉnh, thành phố phía bắc cùng đại diện các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về phụ sản và ung bướu.
Thực trạng ung thư vú và ung thư cổ tử cung tại Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Y tế, ung thư vú hiện là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Việt Nam, với hơn 24 nghìn ca mắc mới và khoảng 10 nghìn ca tử vong mỗi năm. Đáng lo ngại, hơn 60% người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn (III-IV), dẫn đến tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ đạt khoảng 74%, thấp hơn nhiều so với các quốc gia phát triển. Đối với ung thư cổ tử cung, năm 2022, cả nước ghi nhận 4.612 ca mắc mới và 2.571 ca tử vong. Mặc dù là bệnh có thể dự phòng hiệu quả bằng vaccine và tầm soát, nhưng tỷ lệ sàng lọc định kỳ tại Việt Nam mới chỉ đạt 28,2%, với sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền và dân tộc.
Mục tiêu của Kế hoạch hành động quốc gia
Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em Đinh Anh Tuấn cho biết, ngày 3/2/2026, Bộ trưởng Y tế đã ký Quyết định số 358/QĐ-BYT ban hành tài liệu kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035. Mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả dự phòng, chẩn đoán, điều trị và quản lý sau điều trị, hướng tới loại trừ ung thư cổ tử cung và giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú.
Cụ thể, đối với ung thư vú, kế hoạch đặt mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong trung bình 2,5% mỗi năm. Đến năm 2035, phấn đấu 70% phụ nữ trong độ tuổi 40-70 được sàng lọc định kỳ, nâng tỷ lệ phát hiện sớm (giai đoạn I-II) lên 60%. Đặc biệt, kế hoạch nhấn mạnh việc đảm bảo ít nhất 80% người bệnh được tiếp cận và hoàn thành phác đồ điều trị đa mô thức chuẩn hóa, đồng thời thiết lập hệ thống quản lý, theo dõi tái khám định kỳ sau điều trị để hạn chế tái phát và cải thiện chất lượng sống.
Đối với ung thư cổ tử cung, mục tiêu theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là đạt tỷ lệ “90-70-90” vào năm 2035. Cụ thể: 90% trẻ em gái từ 9-15 tuổi được tiêm đủ liều vaccine HPV tại các địa bàn triển khai; 70% phụ nữ trong độ tuổi 30-49 được sàng lọc bằng xét nghiệm hiệu năng cao; và 90% phụ nữ có tổn thương tử cung được xử trí đúng phác đồ. Đây là bước tiến quan trọng để loại trừ căn bệnh này.
Giải pháp và nguồn lực triển khai
Để đạt được các mục tiêu trên, Bộ Y tế đề ra nhiều nhóm giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, thực hiện lộ trình tăng số lượng vaccine trong Chương trình tiêm chủng mở rộng, đồng thời vận động đưa sàng lọc ung thư vú và ung thư cổ tử cung vào danh mục được bảo hiểm y tế chi trả. Thứ hai, đẩy mạnh truyền thông, giáo dục sức khỏe nhằm thay đổi hành vi, khuyến khích người dân chủ động dự phòng và sàng lọc sớm. Thứ ba, đào tạo nhân viên y tế các cấp theo quy trình chuẩn hóa, chuyển giao kỹ thuật sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và theo dõi bệnh nhân theo hướng dẫn của Bộ Y tế, đồng thời phát triển các hình thức tư vấn, khám chữa bệnh từ xa.
Bên cạnh đó, Bộ Y tế tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế, đảm bảo cung ứng vật tư, thuốc, sinh phẩm, duy trì bảo trì thiết bị định kỳ. Quy trình chuyên môn kỹ thuật sẽ được chuẩn hóa, ứng dụng số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) để nâng cao chất lượng sàng lọc, chẩn đoán và điều trị. Đồng thời, xây dựng dữ liệu quốc gia tích hợp, kết nối với hồ sơ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe phụ nữ suốt đời.
Thảo luận tại hội thảo
Tại hội thảo, các đại biểu đã trao đổi về tiến độ triển khai hành động quốc gia, cập nhật lộ trình tăng vaccine trong chương trình tiêm chủng mở rộng, hướng dẫn dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung, cũng như hướng dẫn sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú. Ngoài ra, các đại biểu cũng thảo luận về tiến độ xây dựng văn bản đưa sàng lọc ung thư cổ tử cung vào danh mục kỹ thuật được bảo hiểm y tế chi trả, và giới thiệu các mô hình kết hợp công tư trong sàng lọc ung thư cổ tử cung, mô hình can thiệp toàn diện ung thư vú đã triển khai tại một số địa phương.



