Năm 2025, y dược cổ truyền ghi nhận khoảng 7 triệu lượt khám, chữa bệnh - tương đương 3,3% tổng số lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Số liệu do Bộ Y tế công bố cũng cho thấy chi phí thuốc y học cổ truyền chỉ chiếm khoảng 5,42% tổng chi thuốc từ quỹ bảo hiểm y tế. Dù đã có mặt trong toàn bộ hệ thống bệnh viện và cơ sở khám, chữa bệnh, lĩnh vực này vẫn chưa được phân bổ nguồn lực và thiết kế cơ chế chi trả tương xứng.
Từ Trung ương đến cơ sở, mạng lưới khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ngày càng được mở rộng; nhiều bài thuốc, vị thuốc truyền thống tiếp tục được kế thừa và phát huy hiệu quả trong phòng bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, sự hiện diện rộng khắp chưa đồng nghĩa với việc y học cổ truyền đã có vị trí xứng đáng trong hệ thống y tế.
Thực trạng: mạng lưới rộng nhưng thiếu nguồn lực
Nhiều địa phương đang thiếu bác sĩ y học cổ truyền tại tuyến cơ sở, trong khi đội ngũ kế cận chưa đáp ứng nhu cầu. Việc truyền nghề, kế thừa các bài thuốc, phương pháp điều trị quý vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa được luật hóa bằng những cơ chế đủ mạnh để bảo tồn và phát huy lâu dài. Các cơ chế đặc thù đưa y học cổ truyền tham gia sâu hơn vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi hay kết hợp với y học hiện đại cũng chưa được thể chế hóa đầy đủ.
Chính vì vậy, khoảng cách giữa chủ trương và kết quả đạt được vẫn còn khá lớn dù ngành y tế đã có nhiều nỗ lực trong nhiều năm. Vấn đề không nằm ở năng lực chuyên môn hay giá trị khoa học của y học cổ truyền, mà ở hệ thống quy định chưa tạo đủ điều kiện để lĩnh vực này phát triển bền vững.
Hành lang pháp lý phân tán, thiếu đồng bộ
Tiến sĩ, lương y Phùng Tuấn Giang, Chủ tịch Viện nghiên cứu phát triển y dược cổ truyền Việt Nam, nhìn nhận: “Nhiều năm qua, y học cổ truyền vẫn phát triển chủ yếu dựa trên các quy định nằm rải rác trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược cùng nhiều nghị định, thông tư chuyên ngành.” Theo ông, mỗi văn bản chỉ điều chỉnh một phần hoạt động, chưa tạo thành một hành lang pháp lý thống nhất cho toàn bộ lĩnh vực y dược cổ truyền.
Từ đào tạo, hành nghề, nghiên cứu khoa học, phát triển dược liệu, sản xuất thuốc cổ truyền, bảo tồn tri thức truyền thống đến chuyển đổi số đều được quy định ở nhiều văn bản khác nhau, thiếu kết nối và đồng bộ. Hệ quả là nhiều vùng trồng dược liệu chưa được chuẩn hóa, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng thiếu thống nhất; truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng cây dược liệu chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước lẫn xuất khẩu.
Sự phân tán này khiến việc quản lý nhà nước gặp khó khăn, đồng thời làm giảm hiệu quả đầu tư vào nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm y dược cổ truyền. Nhiều cơ sở khám, chữa bệnh và doanh nghiệp phải vận hành theo các quy định chồng chéo, không ít nội dung chưa rõ ràng về thẩm quyền.
Nghị quyết 72-NQ/TW và bước đi cần thiết
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát huy mạnh mẽ vai trò của y học cổ truyền trong giai đoạn phát triển mới, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Việc xây dựng một luật về y dược cổ truyền chính là bước đi để thể chế hóa chủ trương của Đảng thành các quy định thống nhất, khả thi.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Lê Tuấn, Chủ tịch Hội Quân dân Y Việt Nam, y học cổ truyền có tiềm năng lớn nhưng vẫn thiếu một hành lang pháp lý thống nhất để kết nối các nguồn lực. Ông nhấn mạnh, luật cần khẳng định vị trí pháp lý của y dược cổ truyền là một trụ cột trong hệ thống y tế, không phải lĩnh vực bổ trợ hay thứ yếu. Phát triển y dược cổ truyền phải dựa trên nguyên tắc hài hòa giữa bảo tồn, kế thừa, phát triển và hiện đại hóa, vừa giữ gìn giá trị truyền thống vừa tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến.
Mọi chính sách trong luật cũng cần hướng tới mục tiêu lấy người bệnh làm trung tâm, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y dược cổ truyền, nhất là ở tuyến cơ sở và cộng đồng. Luật không chỉ khắc phục bất cập hiện nay mà còn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hệ thống văn bản dưới luật, tạo nền tảng để ngành phát triển theo hướng hiện đại, khoa học và hội nhập.
Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cụ thể
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Truyền, Chủ tịch Hội đồng Khoa học - Đào tạo Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Kinh tế Y tế, cho biết Việt Nam mới có chính sách quốc gia về y học cổ truyền đến năm 2030, chưa có luật riêng. Ông nhấn mạnh: “Nếu muốn nâng vị thế y học cổ truyền trong khu vực và quốc tế, chuẩn hóa và phát triển mạnh mẽ, toàn diện nền y học cổ truyền, trong tương lai Việt Nam cần cân nhắc trình Quốc hội ban hành Luật Y học cổ truyền” như một số quốc gia như Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc đã làm.
Đã đến lúc cần ban hành một luật về y dược cổ truyền. Đây không chỉ là bước hoàn thiện thể chế của ngành y tế mà còn là giải pháp để biến di sản y học dân tộc thành nguồn lực phát triển, góp phần xây dựng nền y tế Việt Nam hiện đại, nhân văn và đậm đà bản sắc dân tộc.



