Các chuyên gia y tế vừa cảnh báo về gánh nặng bệnh tật do virus hợp bào hô hấp (RSV) gây ra ở trẻ nhỏ, đặc biệt trong 6 tháng đầu đời, và nhấn mạnh sự cần thiết của chiến lược dự phòng chủ động ngay từ giai đoạn thai kỳ. Tọa đàm do Hội Phụ sản Việt Nam (VAGO) tổ chức diễn ra trong bối cảnh VAGO vừa ban hành các hướng dẫn chủ động phòng ngừa RSV, đồng thời Cục Bà mẹ-Trẻ em (Bộ Y tế) cập nhật “Hướng dẫn quốc gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản”, trong đó nhấn mạnh dự phòng bệnh truyền nhiễm như RSV, cúm, ho gà, sởi và uốn ván từ thai kỳ.
Khoảng trống miễn dịch 6 tháng đầu đời
Theo các chuyên gia, RSV là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam. Dữ liệu từ các bệnh viện nhi cho thấy RSV chiếm từ 24% đến 48% nguyên nhân nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở trẻ em Việt Nam. Riêng nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy gánh nặng bệnh tật tập trung chủ yếu ở nhóm trẻ dưới 3 tháng tuổi (42,7%), tiếp theo là nhóm trẻ 3-6 tháng tuổi. Đây là giai đoạn tạo nên “khoảng trống miễn dịch” vì hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện và đường thở còn nhỏ, khiến RSV dễ gây viêm, phù nề và tắc nghẽn, trong khi cơ thể chưa có đủ kháng thể để chống lại virus.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Diệu Thúy – Trưởng Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Hà Nội, Trưởng khoa Nhi Bệnh viện Đại học Y Hà Nội – cho biết đa số trẻ điều trị hồi sức tích cực (ICU) do bệnh đường hô hấp dưới liên quan RSV là những trẻ sinh đủ tháng, trước đó khỏe mạnh. Khoảng 81,2% trẻ phải điều trị ICU do RSV không có bệnh nền. "Trẻ khỏe mạnh không có nghĩa là trẻ an toàn trước RSV", bà nhấn mạnh. Nhiều trẻ ban đầu chỉ ho, sổ mũi, khó thở nhưng có thể tiến triển thành viêm tiểu phế quản, suy hô hấp và phải can thiệp thở máy hoặc đặt nội khí quản. Dữ liệu cho thấy khoảng 23,8% trẻ nhập viện tại đơn vị cấp cứu hoặc chăm sóc đặc biệt do RSV cần thở máy xâm lấn, phản ánh mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Gánh nặng bệnh tật và biến chứng lâu dài
Trẻ nhiễm RSV thường có thời gian điều trị lâu hơn, nhu cầu nhập ICU cao hơn và cần nhiều can thiệp y khoa như chụp X-quang phổi, bù dịch và sử dụng kháng sinh. Nhiễm RSV còn liên quan đến nguy cơ gia tăng các biến chứng hô hấp lâu dài như khò khè tái diễn, hen suyễn hay suy giảm chức năng phổi. Các chuyên gia lưu ý không nên chỉ giới hạn sự quan tâm ở nhóm nguy cơ cao (trẻ sinh non, bệnh tim bẩm sinh, bệnh phổi mạn tính hay suy giảm miễn dịch), vì RSV vẫn có thể gây bệnh nặng ở mọi trẻ nhỏ.
Dự phòng chủ động từ thai kỳ
Hiện nay, việc quản lý điều trị bệnh do RSV chủ yếu mang tính hỗ trợ, tập trung kiểm soát triệu chứng và hỗ trợ hô hấp. Do đó, cần chuyển trọng tâm sang dự phòng từ sớm với cách tiếp cận toàn diện ngay từ thai kỳ. Theo Thầy thuốc Nhân dân, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lưu Thị Hồng, nguyên Vụ trưởng Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em (Bộ Y tế): "Việc chăm sóc sức khỏe mẹ và bé luôn là một trong những trụ cột chăm sóc quan trọng của ngành y tế Việt Nam. Việc chủ động phòng ngừa từ trong thai kỳ theo các hướng dẫn chuyên môn là một bước tiến quan trọng. Không chỉ giúp bảo vệ từng em bé ngay từ những ngày đầu đời, cách làm này còn góp phần giảm áp lực cho hệ thống y tế và nâng cao chất lượng chăm sóc thai sản."
Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Thường trực Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, cho biết trong những năm gần đây, chăm sóc thai kỳ không chỉ dừng ở theo dõi sự phát triển của thai nhi mà ngày càng hướng tới dự phòng các nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe trẻ sau sinh, như RSV. Đây là xu hướng được phản ánh trong các hướng dẫn chuyên môn mới, chuẩn hóa thực hành lâm sàng và hỗ trợ bác sĩ triển khai chăm sóc thai kỳ theo hướng chủ động, dự phòng vì lợi ích lâu dài của mẹ và bé.
Việc bảo vệ trẻ trước các bệnh nhiễm trùng hô hấp cần kết hợp nhiều biện pháp trong suốt thai kỳ và sau sinh, từ theo dõi sức khỏe định kỳ, duy trì dinh dưỡng hợp lý, tư vấn y khoa đến chăm sóc miễn dịch thai kỳ. Khi mang thai, hệ miễn dịch của người mẹ thay đổi để bảo vệ cả mẹ và thai nhi. Thông qua cơ chế truyền kháng thể qua nhau thai, đặc biệt trong ba tháng cuối thai kỳ, trẻ có thể nhận được một phần kháng thể ngay từ khi chào đời, giúp bảo vệ trong giai đoạn khoảng trống miễn dịch 6 tháng đầu đời.



