Hội nghị văn hóa dân tộc: Ghi nhận tiến bộ nhưng vẫn đối mặt với thách thức lớn
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác văn hóa dân tộc và tuyên dương già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín vừa được tổ chức tại Làng Văn hóa, Du lịch các Dân tộc Việt Nam ở Hà Nội, bức tranh về công tác bảo tồn văn hóa dân tộc hiện lên với cả những điểm sáng và nhiều vấn đề trăn trở. Sự kiện này thu hút sự tham gia của các nhà quản lý, chuyên gia và nghệ nhân từ khắp cả nước, nhằm đánh giá kết quả và đề ra hướng đi trong giai đoạn tới.
Thành tựu và chuyển biến tích cực trong bảo tồn văn hóa
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy khẳng định, công tác văn hóa dân tộc thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống đã được khôi phục, lan tỏa và từng bước đi vào đời sống đương đại. Đáng chú ý, tư duy phát triển đã chuyển từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, giúp khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế và nâng cao đời sống cho người dân.
PGS, TS Phạm Lan Oanh, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, chia sẻ rằng qua việc triển khai 35 nhiệm vụ gắn với đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng ngày càng tự tin hơn trong việc giới thiệu di sản văn hóa của mình ra bên ngoài. Điều này cho thấy sự tiến bộ trong nhận thức và hành động của các địa phương.
Những thách thức và nguy cơ mai một vẫn còn cao
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, Thứ trưởng Trịnh Thị Thủy cũng thẳng thắn chỉ ra những khoảng trống đáng lo ngại. Nhiều giá trị di sản vẫn đang đối mặt với nguy cơ mai một cao, do nguồn lực đầu tư cho công tác bảo tồn ở nhiều địa phương còn hạn hẹp và đội ngũ nhân lực tại chỗ vẫn còn nhiều bất cập. Bà nhấn mạnh, cần lắng nghe tiếng nói từ cơ sở, từ cộng đồng và nghệ nhân để đề xuất giải pháp thiết thực hơn.
PGS, TS Phạm Lan Oanh cũng chỉ ra những nút thắt trong quá trình thực hiện, bao gồm:
- Nghịch lý về cơ chế tài chính, khi định mức thuê khoán và chi trả chưa phù hợp với đặc thù bồi dưỡng nghệ nhân và phục hồi nghề truyền thống.
- Nguy cơ sân khấu hóa, khi quá coi trọng hình ảnh phục vụ quảng bá có thể làm phai nhạt tính thiêng và nguyên bản của di sản.
- Sự đứt gãy thế hệ kế cận, với nhiều nghệ nhân cao tuổi nắm vững di sản nhưng lớp trẻ lại khó tiếp nối.
Tiếng nói từ nghệ nhân: Những kiến nghị chân thực và cấp thiết
Các nghệ nhân tham gia hội nghị đã chia sẻ những trăn trở cụ thể từ thực tế công việc của họ. Nghệ nhân H’Hoa Niê Kso, người dân tộc Ê Đê đến từ Đắk Lắk, bày tỏ niềm tự hào khi được giới thiệu văn hóa mẫu hệ tại Làng Văn hóa, nhưng cũng lo lắng về nhân lực mỏng và thiếu kinh phí cho các lớp truyền dạy cồng chiêng, điệu múa. Chị đề xuất mở rộng mô hình trải nghiệm văn hóa cho học sinh, sinh viên tại các địa phương để tăng sức lan tỏa.
Nghệ nhân Mà Thị Hiến, người dân tộc Tày từ Thái Nguyên, cho biết mức hỗ trợ 4,8 triệu đồng/tháng vẫn còn thấp, không đủ đảm bảo cuộc sống, khiến việc tuyển thêm người tham gia hoạt động văn hóa gặp khó khăn. Điều này phản ánh thực trạng thu nhập không ổn định của nhiều nghệ nhân.
Ở cấp độ địa phương, nghệ nhân Tráng Mìn Hồ, người dân tộc Pu Péo ở Tuyên Quang, lo ngại về nguy cơ mai một tiếng nói và phong tục. Ông kêu gọi sự phối hợp giữa ngành văn hóa và trường học để dạy tiếng mẹ đẻ và truyền thống cho lớp trẻ một cách bài bản hơn.
Đề xuất giải pháp và hướng đi trong tương lai
Để giải quyết những thách thức này, PGS, TS Phạm Lan Oanh đề xuất một số giải pháp trọng tâm:
- Xây dựng cơ chế đặc thù cho công tác bảo tồn, khác biệt với các lĩnh vực biểu diễn hay đầu tư xây dựng.
- Trao quyền nhiều hơn cho già làng, trưởng bản và nghệ nhân trong việc quyết định và thực hiện các hoạt động văn hóa.
- Phát triển bảo tồn động gắn với chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm văn hóa và tăng cường phối hợp giữa các cấp, ngành.
Thành quả của công tác văn hóa dân tộc không chỉ nằm ở những báo cáo đẹp, mà ở việc bao nhiêu người trẻ còn muốn học tiếng nói của dân tộc mình và tự hào về trang phục truyền thống. Điều này đòi hỏi chính sách phải sát với đời sống, đầu tư phải trúng nhu cầu và người giữ văn hóa phải được hỗ trợ xứng đáng.
Trong bối cảnh đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo vừa công bố danh sách 15 tỉnh, thành phố được xác định là vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2026-2030, bao gồm các địa phương như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai, và Đắk Lắk. Đây là cơ sở quan trọng để tập trung nguồn lực và chính sách cho công tác bảo tồn văn hóa trong thời gian tới.



