Ba thế hệ dòng họ Huỳnh: 7 liệt sĩ và huyền thoại 76 viên đạn hạ 78 quân thù
Ba thế hệ dòng họ Huỳnh: 7 liệt sĩ và huyền thoại 76 viên đạn

Từ những cánh đồng ven sông Vàm Cỏ, ba thế hệ của dòng họ Huỳnh lần lượt lên đường chiến đấu. Bảy người ngã xuống vì độc lập, tự do, trong đó có Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Văn Đảnh – người lập chiến tích “76 viên đạn hạ 78 quân thù” – và liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, vừa được xác định danh tính sau 58 năm từ bộ hài cốt tìm thấy tại Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng (TP.HCM).

Gia đình 7 liệt sĩ, 2 Mẹ Việt Nam Anh hùng

Con đường nhỏ dẫn vào ấp Bình Lợi (xã Vàm Cỏ, tỉnh Tây Ninh) len giữa mênh mông cánh đồng lúa. Những ngôi nhà của dòng họ Huỳnh quây quần bên nhau, cách nhau chỉ vài trăm mét. Những ngày cuối tháng 7/2026, không khí nơi đây rộn ràng và xúc động khi liệt sĩ Huỳnh Văn Quên trở về sau gần sáu thập kỷ. Ông là Tiểu đội phó, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 Long An (Đơn vị 962, Quân Giải phóng miền Nam), hy sinh trong trận đánh cầu Chữ Y năm 1968.

Từ nhà liệt sĩ Quên, men theo con đường nhỏ xuyên qua cánh đồng khoảng 2 km là đến nhà ông Huỳnh Ngọc Ẩn – con trai của Anh hùng LLVT Huỳnh Văn Đảnh (chú ruột ông Quên). Đối diện là nhà ông Lê Văn Xem (sinh năm 1960, con của cô ruột liệt sĩ Quên). Các nếp nhà của thân tộc hướng về nhau, như cách nhiều thế hệ vẫn sống bên nhau. Trong thời chiến, nhiều anh em trong gia đình cùng lớn lên giữa ruộng đồng, sông nước rồi lần lượt khoác ba lô đi đánh giặc. Nhiều người nằm lại chiến trường. “Từ nhỏ, anh em tôi lớn lên cùng những câu chuyện về cha, về các bác, các chú. Đó vừa là niềm tự hào, vừa là lời nhắc nhở con cháu phải sống xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ đi trước”, ông Ẩn nói.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bà Huỳnh Thị Sảnh (sinh năm 1942), cô ruột của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, chậm rãi lục lại ký ức, lần lượt nhắc tên những người thân đã ngã xuống. Cha của bà là cụ Huỳnh Văn Cân, quê ở xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành cũ. Sau khi kết hôn với cụ Trần Thị Phường, ông về vùng Đức Tân, huyện Tân Trụ, Long An cũ lập nghiệp. Hai ông bà sinh được 11 người con. Chiến tranh lan đến cũng là lúc nhiều người trong gia đình lần lượt ra trận. Người con trai thứ tám là liệt sĩ Huỳnh Văn Bò. Người con trai thứ mười là Anh hùng LLVT, liệt sĩ Huỳnh Văn Đảnh. Người con trai út là liệt sĩ Huỳnh Văn Côn. Hai người con rể là liệt sĩ Lê Văn Bụi và Trần Văn Mơ. Cháu nội trưởng là liệt sĩ Huỳnh Văn Quên. Cháu ngoại Lê Văn On, con trai của liệt sĩ Lê Văn Bụi, cũng ngã xuống. Ba đời dòng họ Huỳnh có 7 liệt sĩ hy sinh.

Cụ Trần Thị Phường được Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng vì có ba người con là liệt sĩ. Cụ cũng là một trong những Mẹ Việt Nam Anh hùng đầu tiên của địa phương. Con gái cụ Phường, bà Huỳnh Thị Niên (vợ liệt sĩ Lê Văn Bụi và mẹ của liệt sĩ Lê Văn On), cũng được phong tặng danh hiệu này. Bà Huỳnh Thị Sảnh nhớ về vùng Đức Tân những năm khói lửa là một căn cứ cách mạng nằm giữa sông nước và đồng ruộng, hứng chịu nhiều cuộc càn quét. Người dân ban ngày cày ruộng, ban đêm nuôi giấu cán bộ, đào hầm, chuyển lương thực, tải đạn. Mỗi xóm đều có người ra trận. Trên bảng lưu danh 288 liệt sĩ của vùng Đức Tân tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Tân Trụ cũ, dòng họ Huỳnh có bảy người được khắc cạnh nhau. “Con cháu họ Huỳnh luôn mong giữ được truyền thống của ông cha để lại”, bà Sảnh nói.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Huyền thoại thiện xạ của Đức Tân

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Văn Đảnh (1939-1971) trở thành nỗi ám ảnh của kẻ thù với chiến tích “76 viên đạn hạ 78 quân thù”, làm nên tên tuổi của lực lượng du kích Đức Tân suốt những năm đầu kháng chiến chống Mỹ. Điều này được ghi lại trong tài liệu Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Đức Tân. Tên ông được đặt cho một tuyến đường và một trường tiểu học trên địa bàn xã.

Đến giờ, nhiều bậc cao niên ở Vàm Cỏ vẫn gọi ông bằng biệt danh “tay thiện xạ của Đức Tân”. Ông tham gia du kích từ năm 14-15 tuổi. Đầu năm 1960, hưởng ứng phong trào Đồng khởi, xã Đức Tân thành lập tổ du kích mật đầu tiên với ba người, tổ trưởng là Huỳnh Văn Đảnh mới 21 tuổi. Tài sản quý nhất của cả tổ chỉ là một khẩu súng trường Lebel đã cũ. Ban ngày họ là nông dân, đêm xuống là du kích. Không có nhiều đạn để tập bắn, mỗi viên đều phải sử dụng đúng lúc.

Tháng 8/1961, ông cùng đồng đội bí mật vượt sông, áp sát một đồn bảo an. Phía bên kia, quân ta nổ súng nghi binh từ xa. Lính địch ôm trung liên lao ra bắn xối xả. Đúng lúc chúng quay trở lại vị trí, ông Đảnh giật dây kích nổ mìn, 7 lính bảo an gục tại chỗ. Sau trận ấy, lính địch các đồn quanh vùng không dám ngang nhiên kéo vào làng. Năm 1962, địch dồn dân lập ấp chiến lược. Người dân đào hầm chông, cài lựu đạn. Một lần, đại đội bảo an tiến vào đốt nhà dân, ba tên giẫm trúng bẫy, số còn lại bị bắn tỉa hạ gục. Tên đại đội trưởng vừa ngóc đầu chỉ huy thì trúng đạn. Kế hoạch lập ấp chiến lược của địch dần thất bại.

Đỉnh cao là trận chống càn giữa năm 1963. Một tiểu đoàn của quân địch, có tỉnh trưởng Long An và các cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy, đồng loạt đánh vào Đức Tân từ hai hướng. Du kích xã phối hợp với lực lượng huyện đánh trả suốt nhiều giờ, bẻ gãy trận càn. Riêng ông Đảnh sử dụng 15 viên đạn, tiêu diệt 17 tên địch. Hai phát bắn trong số đó mỗi viên hạ hai mục tiêu. Kết thúc năm 1963, ông lập chiến tích “76 viên đạn hạ 78 quân thù”. Chiến thuật bắn tỉa và vây đồn của du kích Đức Tân sau đó được phổ biến cho nhiều đơn vị trong toàn Khu 8.

Tháng 5/1965, ông Huỳnh Văn Đảnh được trao Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông là Trưởng đoàn Anh hùng, Chiến sĩ thi đua miền Nam ra mắt Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, và vinh dự được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông hy sinh ngày 13/5/1971 tại khu vực Đức Hòa (Long An cũ) trong một trận tập kích bằng máy bay, trên đường trở về đơn vị nhận nhiệm vụ mới. Hài cốt được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Long An (nay thuộc Tây Ninh).

Những đứa con lớn lên từ căn cứ

Bà Lê Thị Dừa, vợ anh hùng Huỳnh Văn Đảnh, tần tảo nuôi 5 người con. Bà dạy các con về lòng yêu nước, về sự hy sinh của cha và dòng họ. “Mẹ tôi hiếm khi kể chuyện về cha. Mẹ chỉ nói cha và mọi người ra đi vì đất nước, nên mình phải sống cho xứng đáng”, ông Huỳnh Ngọc Ẩn, con trai út, kể. Năm 7 tuổi, ông Ẩn đã bắt đầu làm những việc nhỏ cho cách mạng: mỗi tháng 1-2 lần, cậu ôm súng ngắn, lựu đạn hoặc vũ khí nhẹ men theo bờ ruộng đến một ụ rơm gần nhà, đặt đúng nơi mẹ dặn rồi lặng lẽ quay về. Khi trời tối, các nữ giao liên đến nhận để tiếp tục chuyển đi. Công việc chỉ diễn ra trong ít phút nhưng trở thành ký ức theo ông suốt cuộc đời.

Ở tuổi 90, bà Lê Thị Dừa vẫn giữ nguyên vẹn kỷ niệm cuối cùng về chồng. “Năm đó, thằng Ẩn mới 4 tuổi. Tôi bồng con đứng trong một căn nhà dân. Ổng cùng đồng đội hành quân ngang qua, ghé sát cửa sổ nựng má con rồi hỏi thăm vài câu. Sau lần đó, ổng đi không về nữa”, bà nhớ lại. Chiều xuống trên cánh đồng Vàm Cỏ, con đường mang tên Huỳnh Văn Đảnh kết nối những mái nhà của dòng họ Huỳnh giữa màu xanh bất tận của lúa. Nơi đó từng chứng kiến biết bao cuộc chia ly trong chiến tranh và giờ đây vừa đón một người thân trở về sau gần sáu thập kỷ. Sự trở về của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên khép lại hành trình tìm kiếm kéo dài nhiều năm, nhưng cũng gợi nhắc về một dòng họ mà ba thế hệ đã có bảy người ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ký ức ấy vẫn được gìn giữ qua từng nếp nhà, từng con đường và qua những người con lớn lên từ chính mảnh đất đã nuôi dưỡng biết bao thế hệ anh hùng.