Ô nhiễm nhựa: Khoảng trống chính sách, công nghệ và giải pháp từ vật liệu sinh học
Ô nhiễm nhựa: Khoảng trống chính sách, công nghệ

Ngày 26/6, tại Hà Nội, hội thảo "Giảm thiểu ô nhiễm nhựa - Vai trò của chính sách, công nghệ và đổi mới sáng tạo" do Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Công ty Giải pháp Công nghệ BUYO cùng các đơn vị phối hợp tổ chức. Các chuyên gia nhận định ô nhiễm nhựa không chỉ là vấn đề môi trường mà đã trở thành thách thức đối với phát triển bền vững, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đa dạng sinh học và tăng trưởng kinh tế.

Thực trạng chất thải nhựa tại Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho biết: Tại Việt Nam, mỗi năm phát sinh khoảng 2,93-3,1 triệu tấn chất thải nhựa, trong đó gần 48% chưa được xử lý đúng cách và khoảng 180.000-200.000 tấn rò rỉ ra môi trường nước. Túi ni-lông khó phân hủy và sản phẩm nhựa dùng một lần vẫn được sử dụng phổ biến.

Nhận thức rõ thách thức, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đặt nền tảng cho trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tăng cường tái chế chất thải. Chính phủ cũng ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030, Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn, cùng nhiều chính sách thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Khoảng trống trong thực thi chính sách

Các đại biểu cho rằng, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng nhiều chính sách đã được ban hành, song việc triển khai còn nhiều khó khăn. Hệ thống phân loại, thu gom và tái chế chưa đồng bộ, công nghệ xử lý còn hạn chế, thị trường vật liệu tái chế chưa phát triển tương xứng, việc thay thế nhựa nguyên sinh gặp rào cản về chi phí và khả năng thương mại hóa.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Liễu, Phòng quản lý chất thải, Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng: khung chính sách hiện nay thiếu các công cụ kinh tế đủ mạnh để giảm sử dụng nhựa nguyên sinh; chưa có lộ trình bắt buộc về tỷ lệ nhựa tái chế trong một số sản phẩm; hạ tầng phân loại, thu gom, tái chế và cơ sở dữ liệu về dòng vật liệu nhựa chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Vật liệu sinh học và kinh tế tuần hoàn

Theo các chuyên gia và doanh nghiệp, một hướng đi triển vọng là phát triển vật liệu sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp và chất thải hữu cơ. Các vật liệu này có khả năng phân hủy sinh học, giảm phát sinh vi nhựa, tận dụng nguồn phụ phẩm và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Giám đốc Công ty Giải pháp Công nghệ BUYO (BUYO Bioplastics) Đỗ Hồng Hạnh chia sẻ: nhiều quốc gia đang hoàn thiện chính sách thúc đẩy vật liệu sinh học. Liên minh châu Âu với Quy định về Bao bì và Chất thải bao bì (PPWR) đặt lộ trình tăng tỷ lệ nguyên liệu sinh học trong bao bì từ 2027-2028, mở rộng các lĩnh vực bắt buộc sử dụng vật liệu phân hủy sinh học.

Tại Việt Nam, phụ phẩm nông nghiệp và công nghiệp như bã bia, bã mía có thể trở thành nguồn nguyên liệu sản xuất nhựa sinh học, giảm phụ thuộc vào nhựa dầu mỏ, tận dụng phụ phẩm, giảm phát thải và gia tăng giá trị trong chuỗi kinh tế tuần hoàn.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Rào cản và giải pháp đồng bộ

Các chuyên gia cho rằng quá trình chuyển đổi còn nhiều rào cản. Doanh nghiệp phát triển vật liệu sinh học và công nghệ tái chế gặp khó về tiêu chuẩn kỹ thuật, chứng nhận sản phẩm xanh, tiếp cận nguồn vốn, cơ chế mua sắm công xanh và khả năng thương mại hóa công nghệ.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Thắng, giải quyết ô nhiễm nhựa cần triển khai trên ba trụ cột: chính sách, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chính sách cần tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy sản xuất sạch hơn, tiêu dùng bền vững và kinh tế tuần hoàn. Khoa học-công nghệ phát triển vật liệu thay thế, nâng cao hiệu quả tái chế, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số trong quản lý chất thải. Đổi mới sáng tạo bao gồm đổi mới mô hình kinh doanh, chuỗi cung ứng và phương thức tiêu dùng.

Ông Nguyễn Tiến Huy, Giám đốc Văn phòng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, doanh nghiệp phụ thuộc vào nhựa nguyên sinh sẽ đối mặt rủi ro về thị trường và tiêu chuẩn ESG. Cần xây dựng hệ sinh thái thuận lợi cho đổi mới sáng tạo qua cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox), hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật và tạo điều kiện thương mại hóa công nghệ vật liệu sinh học.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Liễu đề xuất: từng bước quy định tỷ lệ tối thiểu nhựa tái chế trong một số nhóm sản phẩm, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế ưu đãi về thuế, tín dụng xanh để khuyến khích doanh nghiệp sử dụng vật liệu tái chế và thân thiện với môi trường.

Các đại biểu nhận định, tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và đối tác quốc tế sẽ thúc đẩy chuyển giao công nghệ, lan tỏa sáng kiến đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tuần hoàn, hướng tới mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm nhựa và phát triển bền vững.