Phó Cục trưởng Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Minh Khuyến cho biết, tổng lượng nước khai thác tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đạt khoảng 32,25 tỷ m3/năm. Trong đó, nước sinh hoạt chiếm 0,57 tỷ m3/năm, công nghiệp 0,13 tỷ m3/năm, còn nông nghiệp và thủy sản chiếm tới 31,54 tỷ m3/năm. Đáng chú ý, nguồn nước ở khu vực này phụ thuộc tới 95% từ thượng nguồn sông Mê Công.
Dòng chảy thượng nguồn giảm mạnh
Những năm gần đây, dòng chảy từ thượng nguồn về lưu vực sông Cửu Long qua các trạm thủy văn Tân Châu, Châu Đốc đã giảm đáng kể. Cụ thể, mùa khô năm 2015-2016 giảm 36% và năm 2019-2020 giảm 28% so với trung bình nhiều năm. Riêng tại thành phố Cần Thơ, dù sở hữu hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, nguồn nước dồi dào, nhưng đang chịu tác động nặng nề từ biến đổi khí hậu, tình trạng sạt lở bờ sông và sụt lún đất gia tăng, trong bối cảnh nhu cầu khai thác, sử dụng nước ngày càng lớn.
Ngoài ra, tình trạng ngập úng do triều cường, hạn hán, xâm nhập mặn, đặc biệt là thiếu nước ngọt thường xuyên xảy ra vào mùa khô, đe dọa an ninh nguồn nước của toàn vùng.
Khó khăn trong cấp nước sinh hoạt
Phó Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ) Nguyễn Thế Lâm nhận định, do dân cư phân tán, địa bàn rộng lớn, nhiều kênh rạch chằng chịt và chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn, việc cấp nước sinh hoạt luôn đối mặt với nhiều khó khăn. Vào mùa khô, lưu lượng nước từ thượng nguồn suy giảm, dòng chảy yếu, nước mặn xâm nhập sâu vào hệ thống sông chính và các kênh nhánh, nhất là khu vực ven biển phía đông nam, ảnh hưởng trực tiếp đến cấp nước sinh hoạt cho người dân.
Hiện nay, nguồn nước mặt đóng vai trò chính trong cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và sản xuất nông nghiệp, trong khi nước ngầm là nguồn bổ trợ cho các khu vực xa nguồn nước sông, vùng ven biển. Sông Hậu có chất lượng tốt, trữ lượng lớn, đang cung cấp hơn 90% công suất cấp nước sinh hoạt cho toàn đô thị. Tuy nhiên, những năm gần đây, lượng nước sông Hậu cũng chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu và sự giảm dòng chảy từ thượng nguồn.
Quy hoạch tổng thể và giải pháp
Ngày 6/3/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 174/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Mục tiêu tổng quát là bảo đảm an ninh nguồn nước trên lưu vực, tích trữ, điều hòa, phân bổ tài nguyên nước công bằng, hợp lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước ngọt, lợ, mặn gắn với bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước, đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Quy hoạch cũng nhấn mạnh việc bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước; có lộ trình phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm, đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, từng bước thực hiện mục tiêu chuyển đổi số quốc gia thông qua xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, dữ liệu tài nguyên nước, kết nối với hệ thống thông tin tài nguyên môi trường và các ngành có khai thác, sử dụng nước.
Các giải pháp cụ thể
Để bảo đảm an ninh nguồn nước khu vực ĐBSCL, nhiều ý kiến cho rằng các địa phương cần tối ưu hóa lợi ích từ nguồn nước sông Mê Công. Đồng thời, khai thác, sử dụng nguồn nước ngọt từ sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông phục vụ cấp nước liên vùng, liên tỉnh cho những khu vực thường xuyên bị hạn hán, xâm nhập mặn. Cần xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và vận hành hiệu quả hệ thống các công trình thủy lợi.
Bên cạnh đó, cần khai thác hợp lý nguồn nước dưới đất, bảo đảm không vượt ngưỡng giới hạn về mực nước; kiểm soát chặt chẽ việc khai thác nước dưới đất cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt tại khu vực ven biển. Mặt khác, cần kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt, công nghiệp để bảo vệ chất lượng nguồn nước.



