Việt Nam chưa có trường đại học nào lọt vào top 100 thế giới theo các bảng xếp hạng học thuật tổng thể có ảnh hưởng lớn hiện nay, theo TS Lê Văn Út, chuyên gia nghiên cứu về xếp hạng đại học. Ông nhấn mạnh rằng thứ hạng cao ở một lĩnh vực hoặc tiêu chí cụ thể không đồng nghĩa với vị thế học thuật tổng thể của một trường.
Phân biệt ba tầng xếp hạng
TS Lê Văn Út giải thích: "Bản chất mỗi bảng xếp hạng được xây dựng với mục tiêu khác nhau. Có bảng đánh giá năng lực nghiên cứu, có bảng đánh giá tác động xã hội, có bảng đánh giá khả năng tạo việc làm hoặc mức độ quốc tế hóa. Vì vậy, cần hiểu đúng nội hàm ý nghĩa của từng hệ thống xếp hạng."
Các chuyên gia cho hay cần phân biệt ba tầng xếp hạng: thứ nhất, xếp hạng tổng thể toàn cầu như THE World University Rankings, QS World University Rankings hay ARWU, đánh giá vị thế học thuật tổng thể qua các tiêu chí giảng dạy, nghiên cứu, trích dẫn khoa học, uy tín học thuật, uy tín với nhà tuyển dụng, quốc tế hóa, thu hút nhân tài, chuyển giao tri thức và tác động khoa học. Thứ hai, xếp hạng theo lĩnh vực, ngành hoặc chủ đề, nơi một trường có thể mạnh ở ngành cụ thể như kỹ thuật, y sinh, kinh tế, khoa học máy tính hoặc giáo dục nhưng chưa chắc mạnh trên toàn bộ phổ học thuật. Thứ ba, xếp hạng theo tiêu chí hẹp như tác động xã hội hoặc phát triển bền vững, ví dụ THE Sustainability Impact Ratings.
Thứ hạng ở tầng ba không phản ánh năng lực tổng thể
Thứ hạng ở tầng ba không thể dùng để đánh giá thực trạng năng lực đại học nói chung. Đạt Top 100 ở SDG4 “Giáo dục chất lượng” không có nghĩa là trường đó trở thành một trong 100 đại học tốt nhất thế giới, và không đồng nghĩa trực tiếp với “chất lượng giáo dục đại học” theo cách hiểu đơn giản. Tiêu chí SDG4 tập trung vào đóng góp cho giáo dục chất lượng, học tập suốt đời, tiếp cận giáo dục công bằng, bao trùm xã hội và các hoạt động liên quan đến giáo dục trong cộng đồng. Đó là thành tích đáng ghi nhận trong phạm vi nhỏ, nhưng không nên diễn giải vượt quá phạm vi đó.
Đại học Việt Nam đang ở đâu?
Nếu xét theo các bảng xếp hạng học thuật tổng thể, Việt Nam vẫn chưa có trường đại học nào vào top 100 thế giới. Một số trường xuất hiện trong nhóm 500-1.000 trường hàng đầu thế giới ở một số hệ thống xếp hạng quốc tế. Các tên tuổi như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP.HCM, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Duy Tân, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Kinh tế TP.HCM, Đại học Y Hà Nội, VinUni và một số trường khác từng bước có mặt trong các bảng xếp hạng khu vực hoặc thế giới. Tuy nhiên, cuộc đua xếp hạng toàn cầu ngày càng cạnh tranh; thứ hạng của đại học Việt Nam hai năm gần đây nhìn chung chưa có bước nhảy vọt rõ rệt, một số trường chỉ giữ vị trí hoặc thậm chí giảm hạng.
Khoảng cách từ nhóm 500-1.000 lên top 100 thế giới là rất lớn, bao gồm khoảng cách về năng lực nghiên cứu nền tảng, số lượng và chất lượng công bố khoa học, trích dẫn quốc tế, đội ngũ học giả đẳng cấp cao, năng lực thu hút sinh viên và giảng viên quốc tế, ngân sách nghiên cứu, quản trị đại học, danh tiếng học thuật và khả năng tạo ra tri thức mới có ảnh hưởng toàn cầu.
Hiểu sai thông điệp dẫn đến ba hệ quả
Một thành tích trong bảng xếp hạng tác động bền vững là đáng ghi nhận trong phạm vi của nó. Nhưng nếu diễn giải thành “đại học Việt Nam lọt Top 100 thế giới” thì thông điệp bị đẩy xa so với nội hàm và dẫn tới ba hệ quả. Thứ nhất, công chúng có thể hiểu sai rằng Việt Nam đã có đại học ngang hàng với nhóm Harvard, Oxford, MIT, Stanford, Cambridge, NUS hay Tsinghua trong các bảng xếp hạng học thuật tổng thể. Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách có thể bị nhiễu trong đánh giá năng lực thật của hệ thống đại học Việt Nam, dẫn đến chính sách đầu tư, ưu tiên và cải cách bị lệch hướng. Thứ ba, chính các trường đại học cũng có thể rơi vào tâm lý chạy theo danh xưng hơn là xây dựng năng lực thực chất, biến xếp hạng thành cuộc đua truyền thông thay vì công cụ soi chiếu chất lượng.
Cánh cửa nào cho ĐH Việt vào top 100 thế giới?
Những năm gần đây, mục tiêu nâng cao vị thế đại học Việt Nam trên bản đồ học thuật quốc tế được nhắc tới ngày càng nhiều. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Quyết định 1705/QĐ-TTg của Thủ tướng phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã thúc đẩy nhiều đại học lớn đặt ra các mục tiêu xếp hạng tham vọng. Đại học Quốc gia Hà Nội phấn đấu vào Top 100 châu Á vào năm 2030 và Top 300 thế giới vào năm 2035. Đại học Bách khoa Hà Nội hướng tới nhóm 100-150 đại học hàng đầu châu Á. VinUni công bố mục tiêu trở thành đại học Top 100 thế giới vào năm 2030.
TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD&ĐT, nguyên thành viên Tổ tư vấn đổi mới giáo dục của Chính phủ, cho rằng khát vọng đưa một số đại học Việt Nam vào nhóm 100 trường hàng đầu thế giới là hoàn toàn chính đáng, nhưng không nên chỉ nhìn nhận như câu chuyện xếp hạng. Ông nhận định: "Đại học đẳng cấp cao cần được hiểu trước hết là nơi tạo ra tri thức mới, đào tạo người tài, kết nối với doanh nghiệp và góp phần giải quyết những vấn đề lớn của đất nước. Mục tiêu top 100 vì thế có ý nghĩa nếu kéo theo cải cách thật: đầu tư có trọng tâm, tự chủ thực chất, quản trị minh bạch, môi trường học thuật lành mạnh và cơ chế trọng dụng nhân tài."
TS Lê Văn Út cho rằng việc Việt Nam liên tục đặt ra các mục tiêu cụ thể về xếp hạng đại học phản ánh tầm nhìn chiến lược phát triển quốc gia dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ông nhấn mạnh: "Việc đặt ra mục tiêu xếp hạng không đơn thuần là theo đuổi thứ hạng, mà là cách tạo động lực để các trường nâng cao năng lực nghiên cứu, quốc tế hóa, chuyển giao công nghệ, chất lượng đội ngũ và quản trị đại học. Khi chất lượng thực chất được cải thiện, kết quả xếp hạng sẽ là hệ quả tự nhiên."
Trong bối cảnh đó, câu hỏi không chỉ “đã vào top 100 hay chưa”, mà là các đại học Việt Nam đang tiến gần đến đâu trong việc xây dựng những trung tâm học thuật có năng lực nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo đạt chuẩn quốc tế. Thước đo quan trọng nhất vẫn là khả năng tạo ra tri thức mới và nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức tham gia vào những bài toán lớn của quốc gia và thế giới.



