Cấp mã số vùng trồng: nộp hồ sơ online, rút ngắn còn 10 ngày
Cấp mã số vùng trồng: nộp hồ sơ online, rút ngắn còn 10 ngày

Theo Nghị quyết vừa được ban hành, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sẽ được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng. Quy định áp dụng nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm, nhằm giảm thời gian, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục hành chính và không phát sinh thủ tục hành chính mới. Tất cả nhằm tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong sản xuất và đóng gói sản phẩm cây trồng, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc thực hiện thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và truy xuất nguồn gốc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo đó, chỉ thực hiện tiền kiểm đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Điều này cho phép doanh nghiệp chủ động hơn trong quy trình xin cấp mã, giảm ách tắc hành chính.

Quy trình nộp hồ sơ trực tuyến

Về trình tự cấp mã số, tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có địa chỉ vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói, thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là người có thẩm quyền ban hành thông báo cấp mã số hoặc trả lời không cấp kèm lý do cụ thể.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số, thời hạn xử lý được rút ngắn tối đa ba ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Trong thời gian này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo mẫu tại Phụ lục III và Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết. Nếu không đủ điều kiện, cơ quan chức năng phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

10 ngày làm việc cho thị trường yêu cầu mã số

Trong trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, quy trình sẽ chặt chẽ hơn. Trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra thực tế và ban hành thông báo cấp mã số theo mẫu quy định. Riêng trường hợp nước nhập khẩu đồng ý để cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tự phê duyệt, mã số sẽ được phê duyệt ngay sau khi hoàn tất kiểm tra. Nếu không cấp, cơ quan phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Đối với trường hợp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải được nước nhập khẩu phê duyệt, quy trình được kéo dài thêm với sự tham gia của cơ quan cấp tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày có thông báo cấp mã số, cơ quan chuyên môn đầu mối cấp tỉnh tổng hợp danh sách và gửi về Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tiếp đó, trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận danh sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp và gửi nước nhập khẩu xem xét, phê duyệt. Trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu khác về thời gian gửi danh sách, các cơ quan sẽ thực hiện theo yêu cầu của nước nhập khẩu.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Lợi ích cho nông sản Việt

Việc xây dựng mã số vùng trồng được xem là chìa khóa để nông sản vươn xa, nhất là trong bối cảnh nhiều thị trường siết chặt quy định về truy xuất nguồn gốc. Với mô hình nộp hồ sơ trực tuyến và xử lý trên môi trường mạng, người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp không còn phải đi lại nhiều lần, từ đó tiết kiệm chi phí đi lại, in ấn và giảm thời gian chờ đợi. Quy định mới cũng giúp các địa phương thống nhất mẫu biểu, quy trình thực hiện, tránh tình trạng mỗi nơi làm một kiểu.

Theo Nghị quyết, cơ chế hậu kiểm và truy xuất nguồn gốc sẽ là trọng tâm sau khi mã số được cấp. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin đã kê khai. Cơ quan nhà nước sẽ tăng cường kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất, kịp thời xử lý vi phạm. Nhờ đó, uy tín của nông sản Việt trên thị trường quốc tế được củng cố, góp phần mở rộng thị phần xuất khẩu cho các sản phẩm cây trồng chủ lực.