Vào năm 2026, xã Quang Thiện, tỉnh Ninh Bình đã triển khai xây dựng mô hình cánh đồng công nghệ tại xứ đồng bể Phúc Điền. Toàn bộ các khâu sản xuất chủ yếu như làm đất, cấy lúa, phun thuốc bảo vệ thực vật và thu hoạch đều được cơ giới hóa hoàn toàn. Các hộ nông dân tham gia được hướng dẫn thực hành đúng quy trình kỹ thuật, bảo đảm áp dụng phương pháp mạ khay kết hợp cấy máy đúng lịch thời vụ, chăm sóc, bón phân và phòng trừ sâu bệnh theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành.
Nhờ đó, lúa sinh trưởng và phát triển tốt, đẻ nhánh khỏe, đồng đều, khả năng chống chịu sâu bệnh cao, tỷ lệ lúa bị sâu bệnh thấp hơn so với diện tích cấy truyền thống. Theo đánh giá của Phòng Kinh tế xã, năng suất lúa của mô hình ước đạt từ 56 đến 61 tạ/ha, cao hơn so với diện tích sản xuất lúa đại trà của xã. Mô hình cánh đồng công nghệ trong vụ xuân năm 2026 tại xã Quang Thiện đã giúp giảm đáng kể thời gian sản xuất, chi phí thuê nhân công, giảm công lao động nặng nhọc, đặc biệt ở các khâu làm đất, cấy lúa và thu hoạch, đồng thời hạn chế tỷ lệ thất thoát trong quá trình thu hoạch, bảo đảm khung thời vụ sản xuất và gia tăng hiệu quả thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác lúa.
Đồng chí Đinh Văn Khiêm, Bí thư Đảng ủy xã Quang Thiện, đánh giá rằng mô hình cánh đồng công nghệ đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần thay đổi nhận thức của người dân về ứng dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa và chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp. Mô hình cũng góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động nông nghiệp tại địa phương do chuyển dịch cơ cấu lao động sang làm công nhân ở các nhà máy, công ty trong các khu, cụm công nghiệp, đồng thời giảm cường độ lao động nặng cho nông dân.
Nhiều hộ nông dân trong tỉnh Ninh Bình đã được tiếp cận và ứng dụng cơ giới vào sản xuất, chủ động tìm hiểu, học tập và áp dụng công nghệ vào sản xuất cho các vụ lúa tiếp theo. Đã vào vụ gặt, nhưng ông Bùi Văn Trung, xã Lý Nhân, không còn phải lo đi mượn thợ gặt lúa cho kịp thời vụ như trước kia. Vụ này, ông được Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã thông báo ngày, giờ cụ thể máy sẽ gặt đến khu ruộng nhà ông. Ông Trung mang bao đựng lúa đến đầu ruộng và đứng trên bờ xem máy gặt phăng phăng trên đồng, khoảng hơn nửa giờ đã xong cả mẫu ruộng. Lúa đã gọn trong bao. Nhìn hàng chục bao lúa căng tràn, ông Trung cho biết: Nhà chỉ có hai nhân lực làm nông nghiệp, nhưng nhờ có máy cấy, máy gặt của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hỗ trợ nên chúng tôi vừa giảm được nhân lực, mà vẫn bảo đảm kịp thời vụ.
Theo báo cáo của ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình, vụ Xuân 2026, toàn tỉnh gieo cấy 132.785 ha lúa, diện tích lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng. Cơ cấu giống có sự chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị. Tỷ lệ lúa thuần chiếm tới 85% diện tích, đặc biệt các giống lúa chất lượng cao đạt hơn 70% tổng diện tích gieo cấy. Cùng với lúa thương phẩm, địa bàn tỉnh còn có khoảng 500 ha sản xuất hạt giống lúa lai F1 với các tổ hợp lai năng suất như CT16 và Nhị ưu 838, đáp ứng nhu cầu giống tại chỗ, cũng như nâng cao giá trị thu nhập cho người trồng lúa.
Thay đổi phương thức canh tác, đột phá khâu cơ giới hóa và phát triển chuỗi liên kết ứng dụng công nghệ cao là giải pháp bền vững. Hiện nay, toàn tỉnh Ninh Bình đã đưa vào vận hành 853 máy cấy lúa bằng mạ khay, giải quyết khâu gieo cấy cho khoảng 20-25% diện tích. Các khâu còn lại như làm đất đã đạt tỷ lệ cơ giới hóa tuyệt đối 100%, khâu thu hoạch bằng máy đạt 96% và diện tích phun thuốc bảo vệ thực vật bằng thiết bị bay drone đạt khoảng 5%. Tư duy nông nghiệp xanh bền vững đã được tỉnh quan tâm mở rộng trên 8.300 ha diện tích canh tác lúa tiết kiệm nước hướng tới tạo tín chỉ carbon, cùng 50 mô hình liên kết bao tiêu sản phẩm quy mô 1.500 ha với doanh nghiệp.
Theo đánh giá từ Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Ninh Bình, vụ Xuân 2026 cơ bản diễn ra trong điều kiện thời tiết ấm, rất thuận lợi. Tiến độ thu hoạch được đẩy lên rất sớm, tránh được mưa bão. Kinh nghiệm rút ra cho vụ Xuân của Ninh Bình là sự chủ động đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đưa các giống chịu úng, chịu bệnh và duy trì các mô hình liên kết hữu cơ bền vững hiệu quả cùng các công ty, doanh nghiệp. Từ đó, hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa lớn, giảm chi phí nhân công nhờ máy móc và có doanh nghiệp bao tiêu ổn định, giúp người nông dân yên tâm bám ruộng.



