Việc sửa đổi Luật Dầu khí đang được kỳ vọng sẽ tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, đơn giản hóa thủ tục và trao quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp, từ đó khơi thông nguồn lực, thúc đẩy ngành công nghiệp năng lượng phát triển. Theo báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), giai đoạn 2023-2025, gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 38,8 triệu tấn, sản lượng khai thác đạt 24,89 triệu tấn dầu và 19,83 tỷ mét khối khí, nộp ngân sách 480.200 tỷ đồng.
Thực tiễn bộc lộ nhiều vướng mắc
Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, quá trình áp dụng Luật Dầu khí năm 2022 (có hiệu lực từ 1/7/2023) vào thực tiễn đã phát sinh nhiều khó khăn. Trữ lượng tại các mỏ hiện hữu suy giảm nhanh, nhiều mỏ lớn bước vào giai đoạn cuối vòng đời khai thác. Trong khi đó, các phát hiện mới chủ yếu là mỏ nhỏ, mỏ cận biên ở vùng nước sâu, xa bờ, địa chất phức tạp, chi phí đầu tư lớn và rủi ro cao.
Giá dầu thế giới biến động khó lường, thời gian thu hồi vốn kéo dài làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư dầu khí Việt Nam. Cơ chế hợp đồng hiện hành chưa bao quát các tình huống phát sinh đối với mỏ nhỏ, mỏ cận biên, mỏ phức tạp hay các trường hợp hợp nhất mỏ, hợp nhất hợp đồng để tối ưu hiệu quả khai thác. Chính sách ưu đãi đầu tư dù đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đủ sức hấp dẫn để khuyến khích nhà đầu tư tham gia các dự án rủi ro cao, chi phí lớn và thời gian thu hồi vốn dài.
Bất cập trong sự đồng bộ pháp luật
Một số quy định của Luật Dầu khí năm 2022 chưa thực sự đồng bộ với các luật mới ban hành như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, dẫn đến chồng chéo trong tổ chức thực hiện, kéo dài thủ tục và gia tăng chi phí tuân thủ. Việc sửa đổi Luật Dầu khí là cần thiết để khơi thông nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nền công nghiệp năng lượng trong thời kỳ mới.
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cho rằng, điểm cốt lõi của sửa đổi luật lần này là thay đổi tư duy và cách tiếp cận đối với phạm vi điều chỉnh. Luật cần được nhìn nhận như một nền tảng pháp lý cho phát triển hệ sinh thái năng lượng và công nghiệp biển, không chỉ bó hẹp trong tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí truyền thống.
Mở rộng mô hình phát triển năng lượng
Quá trình chuyển dịch của Petrovietnam cho thấy sự thay đổi từ một doanh nghiệp chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dầu khí truyền thống thành tập đoàn công nghiệp, năng lượng với phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng. Các lĩnh vực như LNG, điện khí, thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS), hydrogen, năng lượng tái tạo ngoài khơi và dịch vụ công nghiệp biển đều có mối liên hệ chặt chẽ với nền tảng dầu khí, đòi hỏi những cơ chế mới về đầu tư, sử dụng tài nguyên, không gian biển và quản trị rủi ro.
Luật Dầu khí (sửa đổi) cần được thiết kế theo hướng mở, tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp khai thác hiệu quả các nguồn lực hiện có cũng như thúc đẩy sự liên kết giữa hoạt động dầu khí với các ngành năng lượng mới. Ông Lương nhấn mạnh: “Trong bối cảnh hiện nay, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế ưu đãi đầu tư theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng lô, mỏ dầu khí. Đối với các dự án có điều kiện phức tạp, cần có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và nhà đầu tư để tạo động lực triển khai hoạt động tìm kiếm, thăm dò. Cùng với đó, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, phân cấp, phân quyền rõ ràng và bảo đảm tính ổn định, minh bạch của chính sách nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư phát triển”.
Phân cấp mạnh cho Petrovietnam
Với đặc thù chu kỳ đầu tư dài, vốn lớn, rủi ro cao, nhiều quyết định trong quá trình triển khai dự án mang tính chuyên môn cần được xử lý kịp thời. Nếu phải qua nhiều cấp xem xét, phê duyệt, tiến độ dự án có thể bị kéo dài, gia tăng chi phí và ảnh hưởng hiệu quả đầu tư. Theo định hướng sửa đổi luật, Petrovietnam sẽ được giao xem xét, phê duyệt hoặc chấp thuận một số nội dung trên cơ sở ý kiến góp ý, thẩm định của cơ quan quản lý nhà nước theo phân công của Chính phủ, chủ yếu là Bộ Công thương.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam khẳng định: “Phân cấp chỉ thật sự hiệu quả khi đi kèm với quyền quyết định thực chất, thay vì chỉ chuyển thẩm quyền ký hoặc phê duyệt nhưng quy trình vẫn qua nhiều tầng nấc. Trong hoạt động dầu khí, thời gian chính là chi phí. Một dự án chậm từ 3-5 năm có thể phải đối mặt với biến động về giá dầu, chi phí thiết bị, lãi suất, công nghệ và chiến lược đầu tư của các tập đoàn dầu khí quốc tế. Do đó, việc phân cấp, phân quyền rõ ràng sẽ góp phần giảm chi phí thời gian, chi phí cơ hội của nhà đầu tư và rút ngắn quá trình triển khai dự án từ giai đoạn phát hiện, thẩm lượng, phê duyệt kế hoạch phát triển mỏ (FDP), quyết định đầu tư cuối cùng (FID) đến khai thác dòng dầu, khí đầu tiên”.
Nguyên tắc “một việc - một đầu mối”
Ông Thập cho rằng, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần quy định rõ phạm vi thẩm quyền của Chính phủ, Bộ Công thương, Petrovietnam và người điều hành hợp đồng dầu khí; trong đó, xác định rõ thời hạn xử lý từng thủ tục, trách nhiệm của từng chủ thể theo nguyên tắc “một việc - một đầu mối - một cấp quyết định - một thời hạn - một chủ thể chịu trách nhiệm”. Bên cạnh việc mở rộng thẩm quyền cho Petrovietnam, cũng cần đi đôi với cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp và bảo vệ người thực thi khi đã quyết định đúng thẩm quyền, đúng quy trình nhưng kết quả không như kỳ vọng do rủi ro khách quan của hoạt động dầu khí.



