Sông Ninh Cơ không chỉ là tuyến giao thông nối sông Hồng với biển mà còn là khởi nguồn của một vùng quê giàu truyền thống văn hiến, làm nên đất học, đất văn với danh hương Hành Thiện và các làng nghề tinh xảo như làng mộc Hải Minh chuyên làm đồ gỗ mỹ nghệ, khảm trai; làng nghề kèn đồng Phạm Pháo và hàng chục làng nghề trồng hoa, cây cảnh nghệ thuật trứ danh. Ở một khúc sông thuộc xã Xuân Trường, có một làng nghề đặc biệt. Người ta gọi đó là làng cơ khí Kiên Lao.
Khởi nguồn từ khó khăn
Nói về Kiên Lao những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, nhiều người nhớ nhất không phải sự giàu có, mà là sự cực nhọc. Cái nghèo đeo bám làng quê ven sông suốt nhiều năm. Đất ít, người đông. Làm ruộng không đủ sống. Chính trong khó khăn, người Kiên Lao bộc lộ một phẩm chất đặc biệt, đó là sự kiên cường và nhẫn nại đến lạ lùng.
Bước ngoặt đổi mới
Khoảng từ đầu thập niên 1990, công cuộc đổi mới lan sâu về nông thôn, nhu cầu cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp tăng nhanh. Đồng bằng Bắc Bộ khi ấy bắt đầu xuất hiện máy tuốt lúa, máy nghiền, máy xay xát và nhiều loại công cụ phục vụ nhà nông. Ở Kiên Lao lúc đó, một vài người đàn ông bắt đầu âm thầm mày mò chế tạo máy tuốt lúa. Họ không phải kỹ sư. Họ không có bằng cấp, thậm chí được học hành rất ít. Họ chỉ là người nông dân đã quen một nắng hai sương, lại là con chiên ngoan đạo, luôn nhớ lời Thánh Phao-lồ dạy trong Kinh Tân Ước: “Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn”. Họ mày mò chế tạo máy tuốt lúa với niềm say mê khám phá và quyết tâm đổi đời.
Người trong vùng nhắc đến những cái tên như Nam, Việt, Thanh Tuyền, Trung… như những người mở lối cho nghề cơ khí Kiên Lao sau những năm đổi mới. Vì nghèo khó, nhiều người học dở dang từ nhỏ. Nhưng điều kỳ lạ là họ có một khả năng thực hành hiếm thấy. Chỉ nhìn máy là họ hiểu nguyên lý, tháo ra được, lắp lại được, rồi cải tiến được. Những căn nhà nhỏ khi ấy trở thành xưởng cơ khí sơ khai. Không bản vẽ kỹ thuật chi tiết, không máy móc hiện đại. Chỉ có đe, búa, máy hàn và sự kiên nhẫn của những người nông dân không chịu chấp nhận cảnh nghèo. Ban ngày họ làm ruộng. Đêm đến, ánh lửa hàn lại xanh lên trong những căn xưởng chật hẹp. Hỏng thì sửa, sai thì làm lại. Có những chi tiết máy phải thử đi thử lại hàng chục lần. Có những chiếc máy tuốt lúa đầu tiên của Kiên Lao vừa chạy vừa rung bần bật. Nhưng rồi, máy vận hành ổn định hơn, khỏe hơn, tiện hơn. Tiếng lành đồn xa. Người dân các huyện lân cận bắt đầu tìm đến Kiên Lao đặt mua máy. Có thời điểm, máy tuốt lúa được xem như một sản phẩm công nghệ của nông thôn Bắc Bộ. Muốn mua phải đặt trước, chờ đến lượt. Từ vài xưởng nhỏ, nghề cơ khí lan ra cả làng. Một thế hệ người Kiên Lao bắt đầu lớn lên cùng tiếng búa thép.
Những người phụ nữ thép
Khi làng nghề cơ khí phát triển, hàng hóa bắt đầu được đưa đi khắp nơi. Nhưng thời ấy xe tải hiếm, chỉ những đơn hàng đi xa mới chịu thuê xe vận chuyển. Còn các tỉnh gần, người dân chủ yếu kéo bộ. Những chiếc máy tuốt lúa nặng hàng tạ kéo bằng sức người trên những con đường quê. Từng nhóm người nối nhau đi từ sáng sớm đến tối mịt. Có chuyến kéo hàng sang tận Thái Bình, quãng đường hơn 20 km. Tiền công kéo hàng khoảng 20 nghìn đồng một máy, số tiền có thể khiến người thợ vận chuyển được xếp vào hàng khá giả. Từ đó, ngoài cánh thợ, còn có một lực lượng vận chuyển đông đảo, trong số ấy không ít là phụ nữ.
Bà Đinh Thị Nga là một trong những người đầu tiên làm nghề chở hàng thuê cho làng cơ khí. Người dân trong vùng thường gọi bà là “Mafia Nga”, bởi bà hay tranh phần cả những việc của trai tráng, đàn ông trong làng. Ban đầu, bà đi kéo bộ như những người khác. Sau dành dụm được chút tiền, bà chơi sang, “lên đời”, mua một chiếc xích-lô để chở hàng. Từ đó, trên những con đường làng ven Ninh Cơ, người ta thường thấy người phụ nữ nhỏ thó, nặng chưa đầy bốn chục cân, gò lưng đạp chiếc xích-lô chở vài tạ hàng cơ khí chất cao hơn đầu người. Bánh xe nghiến ken két trên đường. Mồ hôi chảy thành dòng trên khuôn mặt lam lũ. Bà chở máy, chở cả người. Có lần dân làng tròn mắt thấy bà Nga chở bốn “ông Tây” ngồi vắt vẻo trên thành xe xích-lô đi thăm thú trong làng. Nhiều nhà cũng theo bà, sắm xích-lô chuyên chở. Đến giờ trong ký ức của nhiều người Kiên Lao, hình ảnh ấn tượng nhất có lẽ là những người phụ nữ đạp xích-lô chở sản phẩm cơ khí. Đó là một nghịch cảnh nhưng ở Kiên Lao, lại là hình ảnh quen thuộc của một thời. Những người phụ nữ ấy không than thân trách phận. Họ đạp xe như thể đang đạp qua cái đói, cái nghèo và sự bấp bênh của cuộc sống. Chính những đôi chân lam lũ ấy đã góp phần đẩy cả làng nghề đi lên.
Ngọn lửa truyền thế
Ở Kiên Lao, một người thợ hàn giỏi được kính trọng không kém người có bằng cấp cao. Những người cha từng học hành dang dở nay cố gắng cho con học kỹ thuật bài bản hơn mình. Từ những kỹ sư chân đất ngày nào, làng nghề đang dần hình thành một lớp kỹ sư thực thụ. Ngọn lửa cơ khí vì thế không tắt đi mà đang chuyển sang một hình hài mới.
Hướng ra biển lớn
Sông Ninh Cơ mở ra cho Kiên Lao một cánh cửa lớn hơn, giao thương và nghề đóng tàu. Khi kinh tế phát triển hơn, ven sông bắt đầu xuất hiện các xưởng đóng tàu. Nghề hàn cơ khí của Kiên Lao từ sản xuất máy nông nghiệp dần chuyển sang đóng tàu, gia công kim loại, chế tạo thiết bị lớn. Hàn tàu khác hẳn hàn dân dụng. Đó là công việc nặng nhọc, nguy hiểm và đòi hỏi tay nghề rất cao. Một đường hàn lỗi có thể ảnh hưởng đến cả con tàu. Nhưng người Kiên Lao học rất nhanh. Những chàng trai từng lớn lên trong tiếng máy tiện, mùi khói hàn và bụi sắt nhanh chóng trở thành thợ lành nghề. Anh Phạm Văn Nhàn, xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình là công nhân làm tại một cơ sở đóng tàu ven sông Ninh Cơ, chia sẻ: “Thợ giỏi hàn ở đây có thể đạt mức 700 nghìn đồng/ngày. Người mới học việc cũng có thu nhập đủ nuôi sống bản thân”. Quan trọng hơn, họ có nghề trong tay.
Vươn ra thế giới
Từ làng quê ven sông, người Kiên Lao đi khắp nơi. Nhiều thanh niên sang Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) làm việc trong các nhà máy cơ khí. Các doanh nghiệp nước ngoài rất cần những lao động có tay nghề hàn, tiện, gia công kim loại tốt - thứ mà người Kiên Lao có được nhờ nhiều năm lao động thực tế. Có người đi vài năm rồi trở về mở xưởng. Có người trở thành chủ doanh nghiệp. Có người xây được nhà cho cha mẹ bằng chính đôi tay từng cầm mỏ hàn nóng bỏng. Điều đặc biệt ở Kiên Lao là nghề cơ khí không chỉ tạo ra thu nhập. Nó tạo ra một căn tính nghề nghiệp. Nhiều thanh niên trong làng sau này đi học đều chọn ngành cơ khí, chế tạo máy, kỹ thuật. Có những người thi đỗ đại học ngành khác nhưng không nhập học. Họ chờ năm sau thi lại vào Đại học Bách khoa hoặc các trường kỹ thuật để nối nghiệp gia đình. Đó không phải lựa chọn nhất thời. Đó là niềm tin cha truyền con nối, rằng nghề cơ khí có thể nuôi sống con người bằng chính năng lực và sự chăm chỉ.
Kiên Lao hôm nay
Chiều xuống trên sông Ninh Cơ. Mặt nước loang ánh hoàng hôn. Trong các xưởng ven sông, ánh lửa hàn lại bừng lên như những đốm lửa nhỏ giữa miền quê sôi động. Tiếng máy cắt thép vang lên không ngớt, như tiếng gọi của sự sáng tạo và hiện đại. Những người thợ trẻ cúi mình bên thân tàu. Có thể họ không biết nhiều về những năm tháng khó khăn của thế hệ trước, thời kéo bộ máy tuốt lúa hàng chục cây số, thời phụ nữ đạp xích-lô chở vài tạ hàng cơ khí, thời cả làng đỏ lửa suốt đêm chỉ để làm kịp một đơn hàng. Nhưng chính những năm tháng ấy đã tạo nên Kiên Lao hôm nay. Một làng quê không giàu lên nhờ may mắn, không đi lên bằng tài nguyên, càng không phải nhờ những dự án lớn lao. Kiên Lao đi lên bằng trí thông minh, bằng mồ hôi, sự nhẫn nại và đôi bàn tay của những người lao động đến tận cùng. Giữa âm thanh chát chúa của thép và ánh lửa, người ta cảm nhận được sức sống bền bỉ của một làng quê ven sông đang từng ngày hiện thực hóa giấc mơ no ấm.



