Tín dụng Việt Nam hiện tương đương 150% GDP, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay do thiếu tài sản bảo đảm, hạn chế về quản trị và sự mất cân đối khi nền kinh tế phụ thuộc lớn vào vốn ngân hàng.
Nghịch lý vốn: Không thiếu nhưng khó tiếp cận
Tại Hội thảo 'Mở khóa tăng trưởng - Động lực từ kinh tế tư nhân' do báo Thanh Niên tổ chức ngày 8/6, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội, chỉ ra rằng khu vực kinh tế tư nhân đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn lớn. Điểm nghẽn đầu tiên là nghịch lý khi nền kinh tế không thiếu vốn nhưng doanh nghiệp lại khó tiếp cận nguồn lực tài chính. Dù tín dụng ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ yếu, các kênh vốn trung và dài hạn như thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư hay định chế tài chính trung gian vẫn phát triển chưa tương xứng.
Phần lớn doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm, thiếu minh bạch tài chính và năng lực quản trị còn hạn chế. Thực trạng này phản ánh những bất cập trong cấu trúc tài chính của nền kinh tế Việt Nam.
Tín dụng chiếm 150% GDP: Gánh nặng cho ngân hàng
Ông Hùng cho biết quy mô tín dụng toàn hệ thống trên GDP của Việt Nam hiện khoảng 150%, mức rất cao so với nhiều quốc gia. 'Dường như các ngân hàng thương mại đang phải ôm cả vai trò của thị trường vốn khi sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn', ông Hùng nhận định.
Dưới góc độ điều hành vĩ mô, ông Hùng đặt câu hỏi cho ông Đào Văn Hà, Phó vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - ổn định tiền tệ tài chính (Ngân hàng Nhà nước) về nguyên nhân của thực trạng này và giải pháp căn cơ để giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng.
Trả lời, ông Đào Văn Hà cho biết tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất thế giới trong số các nền kinh tế đang phát triển. Thị trường vốn chưa phát triển tương xứng, khiến gánh nặng cung ứng vốn dồn lên hệ thống ngân hàng. Đến cuối năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 1,2 triệu tỷ đồng (9% GDP); vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10 triệu tỷ đồng (78% GDP). Các con số này cho thấy nguồn vốn trung và dài hạn vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.
'Tín dụng đang phải đảm nhận vai trò quá lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là vốn trung và dài hạn', ông Hà nói, lưu ý yếu tố tiềm ẩn rủi ro về thanh khoản và kỳ hạn. Khi tỷ lệ tín dụng trên GDP vượt ngưỡng tối ưu, áp lực lên lạm phát và an toàn tài chính quốc gia gia tăng, tác động tiêu cực đến ổn định vĩ mô và tăng trưởng dài hạn.
Giải pháp: Phát triển thị trường vốn và tháo gỡ dự án treo
Để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho rằng cần phát triển mạnh thị trường vốn, đưa đây trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực. Điều này đặc biệt quan trọng khi Việt Nam cần nguồn lực tài chính lớn để thúc đẩy tăng trưởng và hiện thực hóa mục tiêu phát triển.
Kết luận số 18 của Trung ương đã xác định ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước và các kênh huy động vốn dài hạn, từng bước giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Ông Hà nhấn mạnh: 'Việt Nam cần đẩy mạnh thu hút các dòng vốn chất lượng cao từ bên ngoài thông qua đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và các khoản vay nước ngoài'.
Thực tế, một lượng vốn khổng lồ đang bị 'chôn' trong các dự án bất động sản treo, quỹ đất vướng mắc pháp lý, nằm trong kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc bản án kéo dài. Ông Võ Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thẳng thắn nhìn nhận sự lãng phí lớn này và yêu cầu đưa các dự án ra thị trường để cung - cầu gặp nhau.
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ và Thủ tướng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu, trình ban hành nhiều cơ chế, chính sách tháo gỡ, như Kết luận số 24 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 29/2026 của Quốc hội, Nghị định số 147/2026 của Chính phủ. Đây là cơ sở pháp lý hướng dẫn địa phương thực hiện cơ chế đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nhiều việc cần làm, trong đó tháo gỡ dự án bất động sản tồn đọng là nhóm có thể mang lại hiệu quả ngay. Các địa phương đang tích cực rà soát, phân loại dự án để xử lý phù hợp. Ông Tuấn nhấn mạnh 'tinh thần không cầu toàn', không đặt nặng giải quyết cùng lúc toàn bộ dự án, mà phân loại thành phần để đưa ra giải pháp tương ứng. 'Nguyên tắc là không hợp thức hóa sai phạm, nhưng đảm bảo cái gì có thể giải quyết ngay thì giải quyết ngay để khơi thông nguồn lực', ông Tuấn khẳng định.



