Hội thảo công nghệ lượng tử: Động lực then chốt cho tăng trưởng và quản trị quốc gia
Hội thảo công nghệ lượng tử: Động lực then chốt cho tăng trưởng

Ngày 17/6/2026, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo về công nghệ lượng tử, do đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện chủ trì. Tham dự có các Ủy viên Trung ương Đảng: Trần Hồng Thái, Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Nguyễn Kim Sơn, Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Lê Hải Bình, Phó Giám đốc Thường trực Học viện.

Công nghệ lượng tử trở thành động lực then chốt

Phát biểu khai mạc, đồng chí Đoàn Minh Huấn nhấn mạnh: Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu cao hơn về năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ quốc gia. Trong bối cảnh đó, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành động lực then chốt đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực quản trị quốc gia.

Đồng chí cho biết Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập yêu cầu đột phá về tư duy, thể chế, nguồn nhân lực, hạ tầng và phương thức tổ chức thực hiện, đồng thời chủ động nhận diện, nghiên cứu chuẩn bị cho các xu hướng công nghệ mới có tác động sâu rộng. Công nghệ lượng tử là một hướng phát triển mới, tạo đột biến về công nghệ, thay đổi sâu sắc nhận thức và cải tạo thế giới, cần được nhận diện sớm và quan tâm đúng tầm.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Lĩnh vực mới, nhiều ẩn số, dư địa chiến lược lớn

Theo đồng chí Đoàn Minh Huấn, đây là lĩnh vực mới, chuyên sâu, phát triển nhanh, còn nhiều ẩn số, có dư địa chiến lược lớn cho nghiên cứu ở cả cấp độ cơ bản, ứng dụng, kỹ thuật và quản trị công nghệ, nhằm phục vụ con người, tăng cường tự chủ chiến lược vì lợi ích quốc gia dân tộc. Công nghệ lượng tử thuộc nhóm công nghệ chiến lược theo Nghị quyết số 57. Vì vậy, nhận diện sớm xu hướng, đánh giá khách quan cơ hội, thách thức và chuẩn bị điều kiện cần thiết cho tương lai là việc phải làm.

Đồng chí nhấn mạnh hội thảo thể hiện yêu cầu cấp thiết, kết nối chặt chẽ tư duy lý luận, đào tạo cán bộ, tham mưu chiến lược chính sách với tri thức khoa học và công nghệ hiện đại. Ông cho rằng đây không còn là câu chuyện riêng của phòng thí nghiệm hay cộng đồng nghiên cứu, mà có thể tác động sâu rộng đến mô hình phát triển, năng lực cạnh tranh, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tự chủ và vị thế quốc gia.

Công nghệ lượng tử: Thách thức về nhân lực và hạ tầng

Phát biểu đề dẫn, đồng chí Trần Hồng Thái cho biết: Công nghệ lượng tử là lĩnh vực khó, cả về khoa học, công nghệ hạ tầng, nguồn nhân lực và cách tổ chức thực hiện. Hiện nay, nhiều nội dung của công nghệ lượng tử trên thế giới vẫn đang được nghiên cứu thử nghiệm, kiểm chứng. Nhưng nhiều quốc gia đã coi đây là hướng công nghệ chiến lược, vì nó liên quan trực tiếp đến chủ quyền số, an toàn thông tin và niềm tin của xã hội vào hạ tầng số quốc gia.

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhấn mạnh, công nghệ lượng tử có thể tạo ra các năng lực mới về đo lường, cảm biến, mô phỏng, tính toán, vật liệu, phục vụ khoa học cơ bản, quốc phòng, an ninh, viễn thông, tài chính, y tế, năng lượng, tài nguyên, môi trường và công nghiệp công nghệ cao.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Theo đồng chí, nhân lực cho công nghệ lượng tử không thể đào tạo trong vài tháng hay một khóa tập huấn. Đây là nhân lực liên ngành: vật lý, toán học, khoa học máy tính, mật mã, quang tử, vật liệu, điện tử, điều khiển, đo lường, phần mềm, dữ liệu và liên quan đến nhiều khoa học khác, kể cả khoa học xã hội nhân văn và tôn giáo.

Đồng chí Trần Hồng Thái cho rằng, muốn có lực lượng đó, phải chuẩn bị sớm, có nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và chuyên gia trong và ngoài nước cùng tham gia; phải chủ động nhưng không nóng vội, không chạy đua toàn diện với các cường quốc nhưng không đứng ngoài quan sát; phải đi sớm về nhận thức, đi chắc về nền tảng, đi đúng vào những khâu tạo năng lượng, năng lực phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Hội thảo đề xuất các giải pháp chiến lược

Hội thảo đã nghe 3 báo cáo về các chủ đề: Công nghệ lượng tử trong kỷ nguyên mới - tầm nhìn và kinh nghiệm quốc tế; Hiện trạng, điểm nghẽn và yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong phát triển công nghệ điện tử; Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và các nội dung cần triển khai trong giai đoạn tới.

Các đại biểu tập trung làm rõ xu hướng phát triển chủ yếu của công nghệ lượng tử trên thế giới và tác động đối với Việt Nam; nhận diện những nền tảng đã có, điều kiện còn thiếu và các vấn đề cần chủ động lưu ý từ sớm. Hội thảo xác định cách tiếp cận phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam, đưa ra nhiều giải pháp cho việc lựa chọn hướng ưu tiên trong công nghệ lượng tử; tổ chức thực hiện nguồn lực và phát triển nhân lực; thực hiện cơ chế tài chính để phát triển công nghệ lượng tử một cách thực chất, dài hạn và hiệu quả.

Hội thảo cũng đề xuất các giải pháp về quản trị phát triển công nghệ lượng tử; đột phá ứng dụng; bảo đảm an ninh, an toàn, tự chủ chiến lược, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc.

Kết luận: Hướng ưu tiên và hợp tác quốc tế

Kết luận hội thảo, đồng chí Trần Hồng Thái cảm ơn các nhà khoa học, chuyên gia, cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp đã đóng góp nhiều ý kiến xác đáng, sâu sắc. Trên cơ sở đó, tiếp tục hoàn thiện cách tiếp cận công nghệ lượng tử như một hệ sinh thái công nghệ chiến lược, không thu hẹp vào máy tính lượng tử, nhưng cũng không mở rộng quá mức dẫn tới dàn trải nguồn lực.

Phải lựa chọn một số hướng ưu tiên phù hợp với điều kiện Việt Nam trong giai đoạn trước mắt, nhất là mật mã hậu lượng tử và an toàn dữ liệu; cảm biến và đo lường; quang tử, vật liệu, linh kiện; mô phỏng, thuật toán, phần mềm; AI cho khoa học và đào tạo nhân lực liên ngành; nghiên cứu thiết kế cơ chế điều phối và triển khai theo hướng có đầu mối, có hạ tầng dùng chung, có bệ thử nghiệm, có cơ quan sử dụng, có doanh nghiệp tham gia và có tiêu chí đánh giá theo từng giai đoạn.

Cùng với đó, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ các đối tác tin cậy, chuyên gia quốc tế và chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài; gắn hợp tác quốc tế với đào tạo nhân lực, chuyển giao tri thức, tiếp cận hạ tầng, chuẩn mực kỹ thuật và hình thành năng lực tự chủ trong nước.