Từ sáng sớm, cảng cá Lạch Quèn – một trong những cảng cá lớn nhất tỉnh Nghệ An – đã nhộn nhịp tàu cập bến. Ngư dân tất bật đưa từng khay cá tươi lên bờ. Ông Đinh Trọng Quý, chủ tàu NA-96862-TS, chăm chú vào màn hình điện thoại thực hiện thao tác truy xuất nguồn gốc thủy sản qua phần mềm eCDT VN.
Lợi ích từ chuyển đổi số trong nghề cá
Ông Quý niềm nở: “Trước đây, mỗi chuyến ra khơi chúng tôi phải mang theo nhiều loại giấy tờ và phải trực tiếp đến các trạm kiểm soát để khai báo. Nay có phần mềm eCDT VN, mọi thủ tục từ khai báo tàu xuất nhập cảng đến cập nhật sản lượng hải sản, tọa độ ngư trường và lộ trình tàu về bến đều được nhập trực tiếp trên điện thoại, giúp tiết kiệm thời gian cho ngư dân”.
Ông Nguyễn Văn Kỳ, thuyền trưởng tàu NA-90156-TS, cũng hơn nửa đời bám biển chia sẻ: “Trước đây, mỗi lần tàu cập cảng là tôi lại phải lục tìm sổ ghi chép của chuyến đi. Đi biển dài ngày, nhiều lúc giấy tờ bị nhòe chữ, rách và thất lạc. Giờ mọi thông tin về chuyến đi tôi khai đều được tối ưu trên phần mềm ứng dụng, muốn kiểm tra chuyến nào cũng được ngay”.
Tương tự, anh Phạm Hữu Luyến, chủ tàu NA-92223-TS, dần bắt nhịp với eCDT VN: “Ban đầu tôi lúng túng lắm, không biết vào phần mềm thế nào, các mục cần khai báo ra sao và sợ nhập sai. Nhưng sau vài lần được cán bộ cảng hướng dẫn, giờ thì tôi quen rồi”.
Khó khăn và giải pháp triển khai eCDT VN
Tuy nhiên, việc triển khai hệ thống eCDT VN vẫn còn nhiều khó khăn do ngư dân quen phương thức cũ, trình độ sử dụng thiết bị thông minh còn hạn chế hoặc thiết bị không đủ cấu hình để cài đặt ứng dụng. Theo ông Đặng Đức Vinh, phụ trách cảng cá Lạch Quèn, để thúc đẩy chuyển đổi số nghề cá, từ đầu năm đến nay cảng đã tổ chức 3 lớp tập huấn tuyên truyền, hướng dẫn trực tiếp cho ngư dân, chủ tàu và các tổ chức, cá nhân thu mua về cách sử dụng phần mềm. Ngoài ra, cảng cũng bố trí cán bộ thường xuyên tại cảng để hướng dẫn thao tác, xử lý vướng mắc phát sinh.
Thông qua phần mềm eCDT VN, toàn bộ quá trình tàu cá cập cảng, rời cảng, bốc dỡ sản lượng, thu mua chuyển tải và xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác được cập nhật, quản lý trên môi trường điện tử và kết nối dữ liệu thống nhất.
Hướng tới phát triển nghề cá bền vững
Toàn tỉnh Nghệ An hiện có 3.544 tàu cá; trong đó, 2.636 tàu thuộc diện quản lý từ 6m trở lên và hơn 1.000 tàu khai thác vùng khơi từ 15m trở lên. Đến nay, 100% tàu cá đủ điều kiện đã được cấp giấy phép khai thác thủy sản; tỷ lệ tàu còn hạn đăng kiểm đạt trên 95%. Đáng chú ý, 99,9% tàu cá thuộc diện bắt buộc đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) để phục vụ quản lý, theo dõi hoạt động khai thác trên biển.
Bên cạnh quản lý đội tàu, công tác giám sát sản lượng và ứng dụng công nghệ cũng được tỉnh triển khai mạnh mẽ. 6 cảng cá đã công bố mở cảng, gồm 4 cảng loại II và 2 cảng loại III, trong đó 3 cảng cá chỉ định đủ hệ thống xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác. Phần mềm eCDT VN được triển khai rộng rãi để kiểm soát tàu ra vào cảng và giám sát sản lượng, bảo đảm 100% sản lượng thủy sản bốc dỡ qua cảng được giám sát trên hệ thống điện tử. Trong 5 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã có 1.952 tàu thực hiện thủ tục cập và rời cảng trên eCDT VN với sản lượng thủy sản bốc dỡ đạt gần 13.000 tấn.
Ông Phan Tiến Chương, Giám đốc Ban Quản lý Các cảng cá Nghệ An nhấn mạnh: Các hệ thống như Vnfishbase, VMS và nhất là eCDT VN đã tạo nên một hệ sinh thái dữ liệu nghề cá thống nhất từ đăng ký, cấp phép, khai thác, cập cảng, truy xuất nguồn gốc đến kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Tuy nhiên, theo ông, thời gian tới Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần nghiên cứu, chỉ đạo xây dựng phần mềm dùng chung về quản lý tàu cá tích hợp nhiều chức năng, liên thông với các hệ thống khác, dễ thao tác, có khả năng hoạt động ổn định khi tàu cá vào vùng phủ sóng yếu, thời tiết xấu.
Tại buổi làm việc với tỉnh Nghệ An về chống khai thác IUU, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng đề nghị tỉnh tăng cường quản lý đội tàu, kiểm soát chặt hoạt động khai thác và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về khai thác IUU. Tỉnh cũng cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý nghề cá; rà soát, cập nhật đầy đủ dữ liệu tàu cá trên hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia; qua đó, góp phần cùng cả nước sớm gỡ bỏ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu đối với thủy sản Việt Nam.



