Ngày 26/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Văn bản này được xây dựng trên cơ sở thực hiện Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố.
Tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố
Nghị định quy định quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố theo từng vùng, miền như sau:
- Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên.
- Ở vùng trung du và miền núi phía Bắc: Thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên.
- Ở vùng đồng bằng sông Hồng: Thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên.
- Ở vùng Bắc Trung bộ: Thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
- Ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên: Thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
- Ở vùng Đông Nam bộ: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
- Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
Đối với các thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù như miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn biên giới, hải đảo, khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư hoặc nằm biệt lập trên đảo, cù lao, cồn trên sông thì quy mô số hộ gia đình có thể thấp hơn mức quy định trên. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ hướng dẫn cụ thể các trường hợp này.
Trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố
Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định. Trước khi trình, phải tổ chức lấy ý kiến Nhân dân bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Hồ sơ gồm: Tờ trình của UBND cấp xã; Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại; Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân; Dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp xã. HĐND cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết tại kỳ họp gần nhất.
Trình tự giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố
Đối với giải thể: UBND cấp xã xây dựng Tờ trình kèm Danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể, lấy ý kiến Nhân dân, hoàn thiện hồ sơ trình HĐND cấp xã quyết định. Hồ sơ gồm Tờ trình, Danh sách hộ gia đình, Báo cáo tổng hợp ý kiến, Dự thảo Nghị quyết.
Đối với đổi tên: UBND cấp xã lập Phương án đổi tên, nêu rõ lý do, tên mới, lấy ý kiến Nhân dân, trình HĐND cấp xã. Hồ sơ gồm Tờ trình, Phương án đổi tên, Báo cáo tổng hợp ý kiến, Dự thảo Nghị quyết.
Trình tự ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
UBND cấp xã lập Phương án ghép cụm dân cư, nêu rõ sự cần thiết, phạm vi, số hộ, thôn tiếp nhận; lấy ý kiến Nhân dân tại cụm dân cư được ghép và thôn tiếp nhận; hoàn thiện hồ sơ trình HĐND cấp xã. Hồ sơ gồm Tờ trình, Phương án ghép, Báo cáo tổng hợp ý kiến. HĐND cấp xã ban hành Nghị quyết ghép cụm dân cư.
Đối với đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, UBND đặc khu thực hiện các trình tự tương tự và ban hành Quyết định.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 26/5/2026, bãi bỏ các quy định về người hoạt động không chuyên trách tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP. Trước đó, ngày 20/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 21/CT-TTg yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố rà soát, xây dựng phương án tổng thể sắp xếp thôn, tổ dân phố, hoàn thành trước ngày 10/6/2026; UBND cấp xã xây dựng Đề án, lấy ý kiến Nhân dân và trình HĐND cấp xã thông qua trước ngày 30/6/2026.



