Hơn 20% diện tích rừng do xã quản lý: Khoảng trống thể chế và chất lượng thấp
20% diện tích rừng do xã quản lý: Khoảng trống thể chế

Diện tích rừng do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý hiện chiếm tới 20,51% tổng diện tích rừng toàn quốc, tương đương khoảng 3,07 triệu ha, nhưng phần lớn là rừng nghèo và suy thoái, trong khi quyền tài sản chưa được xác lập đầy đủ. Đây là một trong những điểm nghẽn lớn nhất trong quản trị lâm nghiệp Việt Nam hiện nay.

Quy mô lớn nhưng quyền chưa hoàn chỉnh

Theo số liệu từ Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025, nhóm hộ gia đình, cá nhân quản lý khoảng 7,79 triệu ha rừng (52,04%), ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ quản lý 3,48 triệu ha (23,24%), và UBND cấp xã quản lý 3,07 triệu ha (20,51%). Nhóm tổ chức kinh tế, doanh nghiệp chỉ chiếm 450.000 ha (3,01%), còn các nhóm khác như cộng đồng, đơn vị vũ trang chiếm 180.000 ha (1,20%).

Mặc dù có quy mô lớn thứ ba, UBND cấp xã không phải là chủ thể sử dụng đất đầy đủ về quyền tài sản. Cấp xã chỉ thực hiện chức năng quản lý hành chính đối với diện tích chưa giao, chưa cho thuê hoặc còn vướng mắc pháp lý. Điều này tạo ra sự bất đối xứng rõ rệt giữa quy mô quản lý và mức độ hoàn thiện quyền thể chế.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Chất lượng rừng thấp, phân hóa mạnh theo không gian

Số liệu tổng hợp từ báo cáo hiện trạng rừng năm 2025 của 34 tỉnh cho thấy cơ cấu chất lượng rừng do UBND cấp xã quản lý nghiêng mạnh về rừng nghèo và suy thoái. Rừng nghèo chiếm 60-85% (trung bình 70-75%), rừng nghèo kiệt hoặc phục hồi chiếm 5-20%, trong khi rừng giàu chỉ chiếm 0-3%, nhiều tỉnh gần như không ghi nhận.

Theo Tiến sĩ Trần Thị Kim Anh, Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Tài chính-Marketing, sự chồng lấn giữa khoảng trống thể chế và suy thoái tài nguyên tạo thành một cấu trúc bất lợi kép. Các khu vực có chất lượng rừng cao thường được ưu tiên giao cho hộ gia đình, doanh nghiệp hoặc ban quản lý, trong khi những khu vực chất lượng thấp, khó phục hồi bị treo lại trong khu vực quản lý hành chính. Hệ quả là UBND cấp xã trở thành chủ thể quản lý phần có chi phí quản lý cao nhất và hiệu quả sinh thái thấp nhất.

Phân hóa không gian rõ rệt

Tỷ lệ diện tích rừng do UBND cấp xã quản lý có sự khác biệt lớn giữa các địa phương. Tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, tỷ lệ này rất cao: Lai Châu khoảng 54,3%, Tuyên Quang khoảng 44%, Cao Bằng khoảng 28%, Phú Thọ khoảng 29,5%. Ngược lại, các tỉnh có điều kiện kinh tế-xã hội phát triển hơn ghi nhận tỷ lệ thấp hơn: Tây Ninh khoảng 7,8%, Nghệ An khoảng 14,2%, Đắk Lắk khoảng 16,8%, Sơn La khoảng 15,8%.

Sự khác biệt cũng xuất hiện trong cùng một vùng sinh thái. Tại Tây Nguyên, Gia Lai có tỷ lệ 26,5% trong khi Đắk Lắk chỉ 16,8%. Ở trung du miền núi phía Bắc, Tuyên Quang 44% trong khi Sơn La 15,8%. Điều này cho thấy yếu tố tự nhiên không phải là nguyên nhân duy nhất; tiến độ giao đất, giao rừng, kết quả sắp xếp lâm trường quốc doanh và năng lực thực thi chính sách ở cấp tỉnh đóng vai trò quan trọng.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Vòng xoáy thể chế - sinh thái

Khoảng trống về quyền tài sản làm suy giảm động lực đầu tư và bảo vệ rừng. Khi quyền sử dụng, hưởng lợi chưa được xác lập đầy đủ, cấp xã không có động lực kinh tế trực tiếp từ tài nguyên rừng. Ngược lại, chất lượng rừng thấp và chi phí phục hồi cao lại làm giảm mức độ hấp dẫn của việc giao đất, giao rừng cho các chủ thể khác. Cơ chế hai chiều này tạo nên một vòng xoáy thể chế-sinh thái, trong đó khoảng trống thể chế và suy thoái tài nguyên cùng tồn tại, củng cố lẫn nhau.

Theo Tiến sĩ Trần Thị Kim Anh, vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục giao đất, giao rừng, mà phải gắn quá trình này với nâng cao chất lượng tài nguyên và cải thiện năng lực quản trị địa phương. Nhận diện đúng bản chất của điểm nghẽn kép là điều kiện quan trọng để xây dựng các chính sách lâm nghiệp hiệu quả hơn, hướng tới quản trị rừng ổn định, bền vững và có khả năng tạo giá trị kinh tế-sinh thái lâu dài.