Đuối nước trẻ em: Thách thức lớn từ biến đổi khí hậu và thiếu cơ sở vật chất
Đuối nước trẻ em: Thách thức từ biến đổi khí hậu và thiếu cơ sở vật chất

Tại hội thảo về phòng, chống đuối nước trẻ em, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Y tế, ghi nhận sự phối hợp giữa Bộ Y tế, các bộ, ngành, địa phương và tổ chức quốc tế trong triển khai Quyết định 1248 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2021-2030 và dự án phòng, chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2018-2025.

Thách thức từ địa hình và biến đổi khí hậu

Thứ trưởng Nguyễn Tri Thức lưu ý một thách thức lớn tại Việt Nam là mạng lưới sông ngòi dày đặc, đường bờ biển dài, chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu và thiên tai. Trong khi đó, nhận thức của một bộ phận người dân, sự giám sát của gia đình và kỹ năng sinh tồn an toàn trong môi trường nước của trẻ em tại nhiều vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn hạn chế.

Bà Meheret Melles-Brewer, Trưởng nhóm Môi trường và Lối sống lành mạnh, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam, nhấn mạnh: "Phòng, chống đuối nước trẻ em không chỉ là vấn đề sức khỏe, mà còn liên quan giáo dục, bảo vệ trẻ em, an toàn môi trường, ứng phó thiên tai, phát triển cộng đồng và công bằng xã hội. Việc phân công vai trò rõ ràng, chia sẻ trách nhiệm và mục tiêu chung giữa các ngành là rất cần thiết để bảo đảm không trẻ em nào bị bỏ lại phía sau, đặc biệt khi Việt Nam chuẩn bị khuôn khổ phối hợp liên ngành cho giai đoạn 2026-2030".

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ

Bà Meheret Melles-Brewer cũng lưu ý biến đổi khí hậu, lũ lụt và đô thị hóa đang làm gia tăng nguy cơ trẻ em tiếp xúc với rủi ro liên quan đến nước, đòi hỏi tích hợp phòng, chống đuối nước vào các ưu tiên quốc gia về giảm thiểu rủi ro thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu. WHO khẳng định tiếp tục hợp tác với Chính phủ Việt Nam để tăng cường bằng chứng, chính sách, năng lực và đầu tư bền vững.

Thạc sĩ Đoàn Thị Thu Huyền, đại diện tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids (CTFK) tại Việt Nam, nhấn mạnh: "Trước bối cảnh thời tiết, khí hậu ngày càng cực đoan, nguy cơ đuối nước có thể trở nên nghiêm trọng hơn, đặc biệt ở vùng nông thôn và những địa bàn thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Vì vậy, phòng chống đuối nước cần được nhìn nhận không chỉ như một vấn đề y tế công cộng, mà còn là một vấn đề của phát triển bền vững và bảo đảm quyền trẻ em".

Sáu khuyến nghị từ CTFK

Đại diện CTFK đề xuất sáu khuyến nghị: lồng ghép mục tiêu phòng chống đuối nước trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và kế hoạch bảo vệ trẻ em của địa phương; xây dựng tiêu chuẩn rõ ràng về nội dung, thời lượng và đội ngũ giảng dạy bơi an toàn; đầu tư bền vững cho cơ sở vật chất và khả năng tiếp cận, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa; duy trì và phát triển đội ngũ triển khai tại cơ sở; thiết lập cơ chế theo dõi sau đào tạo thay vì chỉ đo đếm số trẻ tham gia; và xem tính bền vững là kết quả của sự phối hợp giữa chính quyền, ngành giáo dục, y tế, gia đình, cộng đồng và khu vực tư nhân.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Thực trạng đáng lo ngại: Tỷ lệ bể bơi và học sinh biết bơi thấp

Theo Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Bộ đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1717/QĐ-TTg (31/12/2024) phê duyệt Chương trình tăng cường giáo dục kiến thức, kỹ năng phòng, chống đuối nước cho học sinh giai đoạn 2025-2035, đồng thời lần đầu tiên ban hành Chương trình và Tài liệu hướng dẫn dạy bơi an toàn thống nhất áp dụng trên toàn quốc (Quyết định số 2993/QĐ-BGDĐT). Tuy nhiên, số liệu thống kê tính đến 15/6/2026 từ 34/34 Sở Giáo dục và Đào tạo cho thấy nhiều thách thức: tỷ lệ trường học có bể bơi mới đạt 11,64% (2.919/25.090 trường); tỷ lệ học sinh biết bơi đạt 41,01%; trung bình mỗi trường chỉ có 0,57 giáo viên được cấp chứng nhận dạy bơi, nguyên nhân chính đến từ hạn chế về kinh phí đầu tư cơ sở vật chất và nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa.

Giải pháp từ các bộ, ngành và địa phương

Đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết Bộ sẽ ban hành tiêu chí đánh giá trẻ em biết bơi theo 3 cấp độ, đồng thời đẩy mạnh phát triển thiết chế văn hóa-thể thao cơ sở, tạo thêm không gian vui chơi an toàn cho trẻ, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi. Đại diện Phòng Phòng cháy chữa cháy và Cứu hộ cứu nạn, Công an thành phố Đà Nẵng nêu khó khăn: trang thiết bị cứu hộ dưới nước đã cũ, xuống cấp; môn bơi trong chương trình giáo dục phổ thông hiện vẫn là môn học tự chọn chứ chưa bắt buộc; nhiều gia đình còn thiếu kỹ năng giám sát, sơ cứu.

Đề xuất 5 nhóm giải pháp từ chuyên gia

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Việt Cường, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thương, Trường đại học Y tế Công cộng, cho rằng thành công ngắn hạn của các dự án can thiệp không tự động tạo ra tác động sức khỏe dài hạn nếu thiếu tính thể chế hóa - kỹ năng bơi an toàn của trẻ có thể suy giảm tới gần 50% chỉ sau 6 tháng nếu không được ôn luyện nhắc lại. Ông đề xuất 5 nhóm giải pháp: tăng cường thể chế hóa và duy trì nguồn kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước, chuyển từ ngân sách dự án sang ngân sách địa phương kết hợp cơ chế đồng chi trả và huy động nguồn lực tư nhân; lồng ghép bơi an toàn vào chương trình giáo dục chính khóa với tiêu chuẩn đầu ra nghiêm ngặt (bơi 25m, nổi/đứng nước 90 giây) và đội ngũ giáo viên được tập huấn, cấp chứng nhận; quản lý, tối ưu hóa hạ tầng bể bơi, gồm bể bơi thông minh/di động cho vùng sâu, vùng xa, vùng nguy cơ lũ lụt và cơ chế sử dụng chung giữa các trường lân cận; xây dựng hệ thống dữ liệu để điều chỉnh can thiệp linh hoạt theo đặc thù từng vùng miền; và tổ chức đào tạo, kiểm tra kỹ năng định kỳ theo lộ trình.