Theo nghiên cứu của TS Nguyễn Quang Huy (Trường đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng), vầng trăng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xuất hiện tới 38 lần, chưa kể các biến thể như 'Ả Hằng', 'tố nga', 'nguyệt'. Con số này vượt xa bản gốc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nơi trăng chỉ xuất hiện 15 lần như một yếu tố thời gian trung tính. TS Nguyễn Quang Huy nhấn mạnh: 'Nguyễn Du cấp cho trăng thêm rất nhiều động thái khác mà trước và sau ông không ai thể hiện được như vậy. Ông làm điều đó bằng cách thêm vào rất nhiều từ ngữ chỉ tính chất và hoạt động qua cái nhìn của nhân vật Thúy Kiều.'
Vầng trăng trong giai đoạn êm đềm
Ở 574 dòng thơ đầu tiên, khi Kiều còn sống trong cảnh êm đềm nơi 'phòng khuê trướng gấm', vầng trăng xuất hiện 21 lần. Đây là giai đoạn trăng là biểu tượng của 'lòng xuân phơi phới', là nhân chứng cho những khoảnh khắc hồi hộp chờ đợi và hy vọng vào một tình yêu lý tưởng. Những hình ảnh như 'gương nga vằng vặc', 'bóng nguyệt xế mành' hay 'trăng thề' biểu tượng cho sự tròn đầy của tâm hồn thiếu nữ. Trăng lúc này không đứng yên mà thay đổi theo nhịp đập của trái tim nhân vật, từ 'tuần trăng khuyết' gợi sự mong chờ đến 'vầng trăng vằng vặc giữa trời' khi cùng Kim Trọng hẹn thề.
Sự chuyển biến của trăng khi Kiều lưu lạc
Bước sang dòng thơ thứ 575, vị thế của người soi ngắm trăng hoàn toàn thay đổi. Khi gia đình gặp biến cố, Thúy Kiều không còn là tiểu thư khuê các mà trở thành kẻ tha phương, con hầu, kĩ nữ. Trăng lúc này chuyển sang trạng thái thứ hai - trăng của sự đau đớn, rình rập và nhục nhã của kiếp lưu lạc. TS Nguyễn Quang Huy phân tích: 'Mười lăm năm luân lạc trong cuộc đời đầy sóng gió, bao nhiêu lần ánh trăng thay đổi, chủ thể soi ngắm cũng đổi thay khuôn mặt nhận thức về thân phận mình. Thúy Kiều cũng khi tròn khi khuyết cả hai thế giới tâm và thể; thân phận hồng nhan chết đi sống lại nhiều lần.' Kiều 'Thấy trăng mà thẹn những lời non sông', hay cảm nhận cái 'trăng già độc địa' đã buộc dây oan trái vào cuộc đời mình.
Trăng trong các mối quan hệ tình cảm
Trong các mối quan hệ tình cảm của Thúy Kiều, trăng hiện lên với những sắc thái khác biệt. Với Thúc Sinh, trăng mang vẻ phong lưu, 'trăng hoa' nhất và cũng đau đớn nhất qua hình ảnh 'Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường' - tuyệt tác của tưởng tượng nghệ thuật, phản chiếu sự cô đơn của một người phụ nữ đã nếm trải đủ mùi phong tình. Ngược lại, trong quan hệ với người anh hùng Từ Hải, trăng gần như vắng bóng. TS Nguyễn Quang Huy giải thích do không gian của Từ Hải nghiêng về lý trí, đạo nghĩa rạch ròi và bản chất chuộng hành động, nên môi trường cảm tính, mộng mơ của vầng trăng không có đất tồn tại. Sự vắng mặt của trăng lúc này lại chính là biểu tượng cho một giai đoạn Kiều sống bằng lý trí dứt khoát.
Trăng tàn - biểu tượng của sự giải thoát
Đến cuối hành trình, khi tái ngộ Kim Trọng, vầng trăng hiện lên với sắc thái 'trăng tàn', 'vầng trăng bạc'. Điều này cho thấy một tâm thức đã thông suốt lẽ đời sau khi trải qua 'cay đắng trăm đường'. Trăng lúc này không còn gợi sự khao khát mà là sự tĩnh lặng của một tâm hồn đã đạt đến ngưỡng giải thoát. Như vậy, vầng trăng trong Truyện Kiều là một biểu tượng cho quá trình tự nhận thức về bản ngã. Từ ánh trăng phòng khuê đến vầng trăng xẻ nửa, Nguyễn Du đã tạo ra một hình ảnh lung linh và có giá trị nghệ thuật bậc nhất trong lịch sử văn học dân tộc.



