Khi thời gian cuộc đời ngả về chiều, mái tóc phủ màu sương khói cũng là lúc lòng người thường hoài niệm. Bàn tay tôi lật tìm quá khứ trong những kỷ vật của bà để lại: chồng thư chú tôi từ chiến trường miền Nam gửi về, lá cờ đỏ sao vàng nhỏ bằng bàn tay, cái cối giã trầu bằng đồng, con dao bổ cau, ống bình vôi đứng thu lu một góc nhà. Tất cả đã mòn vẹt, sứt sở, mạng nhện bám đầy qua năm tháng, nhưng vẫn còn hơi ấm bàn tay bà.
Những lá thư ố vàng và giấc mơ bữa cơm
Bàn tay tôi lần giở những lá thư ố vàng, chữ đã mờ theo thời gian của chú tôi gửi về. Ngày ấy, chiến tranh ác liệt, dù thuộc diện không phải đi bộ đội vì đã có bố tôi là anh ruột chú đang trong quân ngũ, nhưng đang học dở lớp 10, chú đã viết đơn xung phong nhập ngũ. Chú viết: "Mẹ ơi! Con không thể quên được bữa cơm ngày ấy, bữa cơm của gia đình và cả xóm làng tiễn đưa con lên đường nhập ngũ...".
Tôi khi ấy còn nhỏ nhưng đã biết, sáng hôm sau chú nhập ngũ thì chiều hôm trước nhà tôi thật đông vui. Chả ai bảo ai, trong xóm mọi người kéo đến: người con gà, bơ gạo, người con cá, mớ rau, mấy thằng nhỏ bạn tôi xách tòng teng nải chuối, quả bưởi chín vàng ươm, thơm lựng. Tất cả góp vào làm cỗ liên hoan tiễn chú tôi, tiễn một người con của quê hương lên đường đánh giặc.
Bữa cơm tiễn đưa và lời hứa hẹn
Chú kể trong thư: "...Mẹ ơi! Con đã kể cho đồng đội con về bữa cơm đặc biệt ấy, bạn bè con bảo vui thế! Bao giờ hòa bình sẽ về bên mẹ, tớ góp đặc sản quê là món nem chua, thằng thì bảo quê tớ có bánh đúc, món bánh đúc chấm mắm tôm ngon tuyệt, tớ biết nấu rồi về sẽ nấu cho mẹ ăn...".
Bữa cơm hôm ấy, khi ra về bác đội trưởng đội sản xuất đã ôm chú tôi thật chặt: "Ra đi chân cứng đá mềm, ở nhà mọi người sẽ hăng say lao động chi viện cho tiền tuyến, nhớ thỉnh thoảng biên thư về thanh niên nhé".
Trong một lá thư khác, chú viết: "...Mẹ ơi! Đã mấy hôm rồi gạo chưa vào kịp, chúng con chia nhau bát cháo loãng nấu với rau rừng. Con vừa chợp mắt được một lúc và có giấc mơ. Trong mơ, con được trở về bên mẹ, được mẹ nấu cho một bữa cơm thật ngon trên mâm bao nhiêu là cá rán, rau muống luộc chấm tương và một bát canh cua gạch nổi lên vàng xuộm...".
Nỗi đau mất mát và sự hy sinh
Chiến tranh đã lùi xa, đất nước hòa bình. Trong niềm vui chung, cũng như bao gia đình khác trên mảnh đất này, niềm vui của gia đình tôi không trọn vẹn. Cha tôi trở về lành lặn nhưng chú tôi nằm lại chiến trường. Bà, cả gia đình, họ hàng tôi mòn mỏi, khát khao đợi chờ. Thi thoảng tôi đến bà lại sai tôi đọc thư của chú cho bà nghe. Những lá thư tôi đã thuộc lòng.
Ước vọng mang được thi hài chú tôi về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ quê nhà đã thành hiện thực. Hôm đón thi hài chú tôi tại nhà, bà đứng nghiêm chào, bàn tay phải run run, hai dòng nước mắt chảy trên gương mặt. Bàn tay trái bà cầm một lá cờ nhỏ vẫy vẫy. Bà cứ đứng như vậy đến khi ban tổ chức tang lễ làm xong mọi thủ tục. Con cháu dìu bà đến, bà áp mặt vào tiểu đựng thi hài chú tôi nức nở, giọt nước mắt rơi trong tiếng sụt sùi, nghẹn ngào, trong tiếng nấc.
Bà ở lại với kỷ niệm
Bà già yếu, mấy lần bố mẹ tôi muốn đón bà lên ở cùng để tiện bề phụng dưỡng nhưng bà đều từ chối. Bà bảo với bố mẹ tôi: "Chính quyền làm nhà cho mẹ ở chắc chắn lắm rồi, mẹ ở đây còn hương khói cho em, chăm mấy cái cây ăn quả mà trước khi đi bộ đội em đã trồng chứ. Mà mẹ ở đây cũng gần các con mà".
Bữa cơm, bà thường thêm một chiếc bát, đôi đũa, bà bảo với chúng tôi chú về gần rồi, bà mời chú về ăn cùng cho vui cửa vui nhà. Hôm nay cháu con lại về thắp hương cho bà cho chú đây!



