Hồi sinh những loài nguy cấp
Hành trình đầy cảm xúc của động vật hoang dã từ những lồng nuôi nhốt chật hẹp, bị stress và thương tích, đến môi trường sống là những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn là một kết thúc có hậu. Ông Trần Văn Thụ, Giám đốc Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật thuộc Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, không giấu được niềm tự hào lẫn trăn trở khi kể về công việc hằng ngày của đơn vị mình. Chỉ với 6 cán bộ, nhân viên, trong đó có 2 bác sĩ thú y là Đặng Thị Thiết và Mã Thị Uyên đã gắn bó nhiều năm, Trung tâm đang gánh vác trọng trách tiếp nhận, cứu chữa, phục hồi và tái thả các loài động vật rừng về môi trường tự nhiên.
"Khoảng 80% số động vật được tiếp nhận là do người dân tự nguyện giao nộp. Đây là tín hiệu đáng mừng về sự thay đổi nhận thức cộng đồng trong bảo vệ động vật hoang dã. 20% còn lại là tang vật từ các vụ vi phạm do cơ quan chức năng chuyển giao. Những con vật là tang vật thường bị stress nặng vì bị nhốt, bị bắt giữ hoặc đang bị thương. Chúng tôi phải chăm sóc, điều trị cho đến khi sức khỏe ổn định mới có thể tái thả", ông Thụ chia sẻ.
Mới đây, chúng tôi ghé đến cũng vừa lúc trung tâm tiếp nhận thêm một con rái cá trưởng thành thuộc nhóm IB - nhóm động vật nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Con rái cá đang trong tình trạng sức khỏe khá tốt. Ông Thụ nói chỉ vài hôm nữa là có thể đem vào suối lớn trong rừng sâu thả được.
Tuy nhiên, không phải cứ động vật khỏe là có thể tái thả. Với những động vật do người dân giao nộp, thường đã quen với môi trường nuôi nhốt, bị cách ly thời gian dài với tự nhiên, quá trình phục hồi phức tạp hơn nhiều. Các bác sĩ thú y và cán bộ trung tâm phải dày công "khai thông lại tập tính hoang dã", tập cho chúng ăn những thức ăn có sẵn trong tự nhiên, từng bước tái hòa nhập với môi trường sống vốn có.
Ông Thụ nói: "Thậm chí, địa điểm tái thả cũng phải được lựa chọn kỹ lưỡng theo đặc tính sinh thái của từng loài. Rái cá phải được thả ở khu vực có suối lớn để tìm kiếm thức ăn. Khỉ, vượn thì cần tìm đúng địa bàn có đàn hoang dã để hòa nhập cộng đồng. Đây là sự khác biệt giữa 'thả để quên' và 'thả để sống', là sự cần thiết trong công tác bảo tồn, gìn giữ và phát triển giống loài".
Những con số ấn tượng
Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, đơn vị đã thực hiện 4 đợt tái thả động vật rừng, đưa hàng chục cá thể thuộc nhiều loài quý hiếm trở về môi trường tự nhiên trong lâm phần Vườn quốc gia Kon Ka Kinh quản lý. Cụ thể, đã tái thả 41 cá thể với 13 loài động vật, trong đó có 17 cá thể thuộc nhóm IB (nhóm nguy cấp). Các loài bao gồm rùa núi vàng, tê tê Java, rùa hộp trán vàng miền Trung, cu li nhỏ… Tất cả đều có xác nhận sức khỏe tốt sau thời gian cứu hộ, chăm sóc bài bản.
Vườn quốc gia Kon Ka Kinh - Viên ngọc xanh của Tây Nguyên
Sứ mệnh cứu hộ động vật càng có ý nghĩa hơn khi đặt trong bối cảnh giá trị sinh thái ngoại hạng của Vườn quốc gia Kon Ka Kinh với tổng diện tích gần 42.000 ha, trong đó hơn 39.300 ha là rừng tự nhiên. Đây là một trong những khu rừng nguyên sinh quý giá nhất còn lại ở Tây Nguyên. Năm 2003, vườn được công nhận là Vườn Di sản ASEAN - một trong 27 vườn xuất sắc nhất khu vực Đông Nam Á.
Hệ thực vật nơi đây ghi nhận hơn 1.750 loài, thuộc 568 chi và 158 họ thực vật bậc cao, hội tụ nhiều luồng thực vật từ Bắc Việt Nam, Vân Nam - Quý Châu, Malaysia - Indonesia và các loài đặc hữu. Đặc biệt, kiểu rừng hỗn giao lá rộng - lá kim chỉ tồn tại duy nhất tại Kon Ka Kinh trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam. Về động vật, vườn là ngôi nhà của gần 880 loài, gồm 16 loài đặc hữu như vượn má hung Trung bộ, voọc chà vá chân xám, mang Trường Sơn và chim khướu Kon Ka Kinh, cùng 47 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới.
Phục hồi hệ sinh thái và nâng cao nhận thức
Song song với cứu hộ động vật, Trung tâm còn triển khai mạnh mẽ hoạt động phục hồi và làm phong phú hệ thực vật. Trong năm qua, đơn vị đã trồng thêm hơn 50.000 cây thuộc các loài gỗ quý như muồng, hương, trắc và huỳnh đàn. Điều đáng ghi nhận không kém là sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân địa phương. Vườn quốc gia Kon Ka Kinh đang từng ngày viết tiếp câu chuyện hồi sinh, trả lại tự do cho nhiều sinh linh hoang dã, gìn giữ "viên ngọc xanh" của cao nguyên Gia Lai cho các thế hệ mai sau.



