“Bữa nay cán bộ xã báo cho tôi là có nhà báo về gặp nên tôi mới ở nhà. Chứ ngày thường giờ nay là tôi ở trên Cồn Lim rồi...” – ông Trương Quốc Đô cười hiền khi đón khách trước căn nhà gỗ đơn sơ nằm cuối xóm Tân Hóa, xã Kim Phú. Muốn vào nhà ông, chỉ có một con đường độc đạo chạy thẳng từ cổng chào thôn 4.
Người đàn ông 33 năm gắn bó với Cồn Lim
Ông Đô gây ấn tượng bởi nước da sạm nắng. Dù đã bước sang tuổi 75, ông vẫn rắn chắc như những cây lim mình bảo vệ suốt 33 năm qua. Ông có 7 người con trai; năm người đã lập gia đình và dựng nhà quanh khu đất của cha. Với ông, đó không chỉ là niềm vui tuổi già, mà còn là những người đồng hành trong hành trình khó khăn giữ rừng.
Năm 1992, thực hiện chủ trương giao đất giao rừng, ông Đô nhận khoanh nuôi, bảo vệ 50 ha rừng tự nhiên ở thôn Yên Thọ (nay là thôn Tân Hóa). Do diện tích quá lớn, ông chủ động trả lại một phần, chỉ giữ lại 20ha ở khu vực Cồn Lim. Chính quyết định đó đã gắn chặt cuộc đời ông với khu rừng này.
“Cồn Lim của ông Đô là khu vực bất khả xâm phạm”
Ông Đô sinh ra dưới tán lim, lớn lên cùng những thân cây cổ thụ. Trong chiến tranh, rừng lim che chở cho bộ đội và dân làng trước mưa bom. “Ngày đó, trên đồi có xưởng công binh của bộ đội. Tôi quen rừng nên thường làm liên lạc. Người trong làng cũng nhờ những cây lim lớn để dựng hầm tránh bom” – ông kể.
Kể từ khi nhận bảo vệ rừng, ngày nào ông cũng lên rừng. Mùa nắng phát thực bì, mở đường băng cản lửa. Mùa mưa kiểm tra cây đổ, tuần tra chống xâm hại. Chỉ cần nghe tiếng máy cưa hay tiếng búa chặt từ rừng, ông lập tức bỏ việc nhà lên tuần. Ông sẵn sàng đương đầu với lâm tặc và cả những người hàng xóm bị đầu nậu dụ dỗ. Người dân trong vùng rỉ tai nhau: “Cồn Lim của ông Đô là khu vực bất khả xâm phạm”.
Kiên quyết giữ rừng vì công thổ quốc gia
Suốt 33 năm, không biết bao nhiêu lần ông đối mặt với lâm tặc. Có người đến tận nhà hỏi mua cây lim, có người dọa chặt trộm. Ông chỉ lắc đầu: “Tôi giữ rừng là giữ công thổ quốc gia, không phải giữ riêng cho tôi”. Dù cuộc sống còn khó khăn, ông chưa từng nghĩ đến việc bán dù chỉ một cây lim.
Giữa đại ngàn, mọi mốc giới đều được ông nhớ như in. Ông dừng lại trước hai cây lim đứng cạnh nhau, vuốt nhẹ lên vỏ xù xì: “Năm 1965, dân làng chặt cây lim này để dựng hầm tránh bom. Sau chiến tranh, gốc cây tái sinh rồi mọc thành hai cây như bây giờ”. Hai thân lim nay đã có đường kính gần một mét. Khi được hỏi vui về giá trị, ông cười: “Tui không biết”. Ông khẳng định: “Con tôi xin chặt lim làm nhà, tôi cũng không cho”.
Những cây lim non tiếp nối
Dưới tán những cây lim cổ thụ là vô số cây lim nhỏ mọc lên từ hạt. “Mỗi mùa quả chín, tôi lại nhặt hạt đem gieo vào những khoảng đất trống. Người dân đến xin hạt giống, tôi cũng sẵn sàng chia sẻ” – ông nói. Đã gần 12 giờ trưa, bước chân tôi bắt đầu chậm lại. Đi phía trước, ông Đô vẫn khoát tay: “Đi nhanh lên, rừng còn nhiều lắm!”. Như tiếc nuối, ông nói to: “Còn nhiều chỗ đẹp chưa kịp giới thiệu”. Chúng tôi chợt nhận ra, với ông Đô, ngày nào còn đủ sức bước đi, ngày đó ông vẫn sẽ làm người “cận vệ” cần mẫn của Cồn Lim, như suốt 33 năm qua.



