El Nino năm 2026 được dự báo sẽ đạt cường độ rất mạnh, trở thành một trong những sự kiện El Nino điển hình nhất kể từ năm 1950. Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), xác suất El Nino đạt cường độ rất mạnh (siêu El Nino) là 81%, bắt đầu từ khoảng tháng 10/2026. Hiện tượng này không chỉ tác động đến thời tiết toàn cầu mà còn đe dọa nghiêm trọng đến an ninh nguồn nước, năng lượng và kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
El Nino mạnh lên nhanh chóng, nhiệt độ nước biển vượt ngưỡng lịch sử
Bản cập nhật khí hậu theo mùa toàn cầu của WMO cuối tháng 7/2026 cho thấy, nhiệt độ bề mặt nước biển khu vực xích đạo Thái Bình Dương (chỉ số Nino 3.4) đã vượt 2,9°C so với mức trung bình, mức cao nhất kể từ năm 1950. Ngưỡng El Nino mạnh được xác định khi nhiệt độ khu vực này tăng 2°C so với bình thường. Bà Celeste Saulo, Tổng thư ký WMO, cảnh báo: “Thời gian qua chỉ là màn khởi động, hiện El Nino đang tiếp tục mạnh lên. Sự mạnh lên của El Nino tiếp thêm nhiên liệu cho một hành tinh vốn đang bị thiêu đốt với những vòm nhiệt, những vụ cháy rừng kinh hoàng và nhiệt độ mặt nước biển nóng kỷ lục”.
Bên cạnh El Nino, hiện tượng “Lưỡng cực Ấn Độ Dương” cũng đang xuất hiện: phía tây Ấn Độ Dương ấm hơn trung bình, phía đông lạnh hơn trung bình. Sự kết hợp này có thể làm gia tăng các tác động khí hậu khu vực như hạn hán, lũ lụt và nguy cơ cháy rừng, đặc biệt quanh lưu vực Ấn Độ Dương. Nhiệt độ bề mặt biển vùng nhiệt đới Đại Tây Dương cũng duy trì ở mức cao hơn trung bình, khiến nhiệt độ đất liền tăng cao trên hầu hết các khu vực.
Việt Nam: 4 nhóm rủi ro chính
Cục Khí tượng Thủy văn Việt Nam đã xác định 4 nhóm rủi ro chính khi siêu El Nino xảy ra. Thứ nhất là nắng nóng và nhiệt độ: nhiệt độ trung bình trên cả nước phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5-2°C, có thời điểm vượt 3-4°C. Thứ hai là nguồn nước: tổng lượng mưa tại Trung bộ, Tây Nguyên và Nam bộ thiếu hụt từ 20-40%, có nơi trên 50%. Thứ ba là xâm nhập mặn, đặc biệt tại ĐBSCL, như giai đoạn 2015-2016 khi El Nino kết hợp với dòng chảy sông Mekong suy giảm gây hạn mặn lịch sử. Thứ tư là bão có xu hướng bắt đầu muộn, kết thúc sớm, số cơn ít nhưng quỹ đạo bất thường hơn.
Nếu El Nino cường độ rất mạnh kéo dài đến giữa năm 2027, tác động đến Việt Nam sẽ rất nặng nề. Trong nông nghiệp, hạn hán và xâm nhập mặn có thể làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi và thủy sản, nhất là tại duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và ĐBSCL. Chi phí sản xuất tăng do phải điều chỉnh mùa vụ, tăng cường tưới tiết kiệm, ảnh hưởng đến thu nhập người dân. Trong công nghiệp và năng lượng, lượng nước về các hồ thủy điện trên sông Đà, Đồng Nai, Sê San, Sêrêpốk thấp hơn trung bình, làm suy giảm huy động thủy điện, buộc tăng huy động nhiệt điện chi phí cao, ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp. Ngành dịch vụ cũng chịu áp lực khi nắng nóng kéo dài làm tăng nhu cầu điện, nước và chi phí vận hành, du lịch tại các vùng thiếu nước bị ảnh hưởng.
ĐBSCL: “đói lũ” và nguy cơ hạn mặn
Ngay hiện tại, ĐBSCL đang đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng. Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam (SIWRP), tổng lượng lũ từ ngày 1/6 đến 30/7 tại trạm Kratie (Campuchia) chỉ đạt khoảng 56 tỉ m3, thiếu hụt 15,21 tỉ m3 so với trung bình nhiều năm, tương đương khoảng 21% và ít hơn khoảng 50% so với cùng kỳ năm 2025. Mực nước tại Tân Châu (sông Tiền) và Châu Đốc (sông Hậu) thấp hơn đáng kể so với trung bình nhiều năm.
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia sinh thái học ĐBSCL, nhận định: “Dự báo năm nay miền Tây đói lũ. Nước lũ về ít không chỉ ảnh hưởng tới nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trước mắt mà còn làm gia tăng nguy cơ khô hạn, xâm nhập mặn trong mùa khô sắp tới. Nguồn lợi thủy sản tự nhiên từ thượng nguồn sông Mekong sẽ giảm đáng kể, chu kỳ sụt giảm có thể kéo dài 2-3 năm tới”.
Ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo và kinh tế toàn cầu
Cục Khí tượng Thủy văn ước tính khoảng 350.000 ha lúa đông xuân 2027 ở ĐBSCL bị ảnh hưởng do hạn mặn. Ngay trong năm 2026, Campuchia cho biết hạn hán do El Nino đã ảnh hưởng đến 108.664 ha ruộng lúa trên 7 tỉnh, riêng Battambang có gần 63.000 ha bị ảnh hưởng. Thái Lan dự báo sản lượng lúa giảm khoảng 6%, tổng thiệt hại kinh tế tương đương 0,31% GDP. Philippines có thể giảm tới 700.000 tấn gạo. Ấn Độ dự báo lượng mưa chỉ đạt 90% trung bình nhiều năm, làm giảm sản lượng lúa, đậu tương, bắp và có thể đẩy lạm phát lương thực vượt 4,5%.
Một báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Nông nghiệp bền vững thuộc Đại học Nông nghiệp Pakistan (PJTAU) đưa ra ba kịch bản về giá lúa gạo toàn cầu. Kịch bản lạc quan nhất: giá tăng 10-20% nếu không có tâm lý tích trữ. Kịch bản khả thi nhất: giá tăng 30-50% do sản lượng giảm và tích trữ tăng. Kịch bản xấu nhất: giá tăng gấp đôi, thậm chí hơn 100% nếu xảy ra hạn chế xuất khẩu hoặc tăng nhập khẩu ở các thị trường chính.



