Dự thảo nghị định mới về kinh doanh xăng dầu (bản 13, ngày 27.7) do Bộ Công thương soạn thảo đã bổ sung nhiều quy định chi tiết, làm rõ hơn quyền và trách nhiệm của 'thương nhân bao tiêu sản phẩm xăng dầu' – nhóm doanh nghiệp được giao bao tiêu sản phẩm của nhà máy lọc dầu trong nước hoặc có quyền chi phối nhà máy lọc dầu.
Quyền bao tiêu gắn với Thỏa thuận bảo lãnh và cam kết của Chính phủ
So với dự thảo cũ (bản 12.2), dự thảo 13 đã mở rộng quyền hạn cho thương nhân bao tiêu, nhưng đồng thời tăng trách nhiệm pháp lý. Cụ thể, thương nhân bao tiêu được giao quyền bao tiêu theo Thỏa thuận bảo lãnh và cam kết của Chính phủ và/hoặc có quyền chi phối doanh nghiệp sở hữu nhà máy lọc dầu trong nước. Họ có thể trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho chi nhánh, doanh nghiệp do mình sở hữu 100% vốn điều lệ thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động bao tiêu, nhưng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về phạm vi ủy quyền.
Bên cạnh đó, thương nhân bao tiêu được mua sản phẩm xăng dầu từ thương nhân sản xuất trong nước và bán cho thương nhân đầu mối; được xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, mua bán nguyên liệu trong và ngoài nước; được xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu thành phẩm trong trường hợp cần bảo đảm cân đối nguồn cung cho các thương nhân đầu mối, theo chấp thuận của Bộ Công thương. Họ cũng phải thực hiện chế độ báo cáo và phối hợp bảo đảm nguồn cung theo quy định.
Thương nhân đầu mối: Điều kiện khắt khe, quyền phân phối rộng hơn
Dự thảo giữ nguyên các điều kiện về hạ tầng và hệ thống phân phối đối với thương nhân đầu mối, bao gồm: sở hữu cảng chuyên dụng, kho chứa tối thiểu 15.000 m³, có ít nhất 10 cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu và tối thiểu 40 thương nhân phân phối chỉ thuộc hệ thống của mình. Tuy nhiên, dự thảo mở rộng quyền phân phối: thương nhân đầu mối được bán trực tiếp cho người tiêu dùng và doanh nghiệp sử dụng xăng dầu, được tổ chức phân phối qua chi nhánh, công ty con, nhưng phải kết nối dữ liệu về kho, nguồn hàng, nhập – xuất – tồn với Bộ Công thương và chịu trách nhiệm bảo đảm nguồn cung toàn hệ thống.
Về cơ chế giá, dự thảo trao quyền tự quyết giá bán buôn, bán lẻ theo cơ chế thị trường cho thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối, trên cơ sở giá mua thực tế cộng chi phí tạo nguồn, chi phí kinh doanh định mức, lợi nhuận và thuế. Tuy nhiên, thương nhân phân phối thuộc hệ thống của thương nhân đầu mối không được tự quyết hoàn toàn về giá; giá bán lẻ không được cao hơn mức giá do thương nhân đầu mối cung cấp công bố.
Chi phí định mức và bình ổn giá
Đối với khu vực xa cảng, xa kho đầu mối, thương nhân đầu mối được phép bán cao hơn để bù chi phí vận chuyển, nhưng mức tăng tối đa không vượt quá 2% giá bán lẻ đã công bố. Riêng chi phí kinh doanh định mức vẫn do Bộ Công thương công bố, điều chỉnh hằng năm theo CPI, rà soát định kỳ 3 năm/lần, và có thể điều chỉnh sớm nếu chi phí biến động lớn.
Về bình ổn giá, dự thảo quy định Nhà nước chỉ can thiệp khi giá xăng dầu biến động bất thường theo Luật Giá. Cụ thể, khi giá bán lẻ tăng hoặc giảm liên tiếp trong 1–4 tuần, biến động mạnh trong thời gian ngắn hoặc mức tăng, giảm cộng dồn từ khoảng 15–20% trở lên, có nguy cơ ảnh hưởng đến lạm phát, sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân. Khi đó, Bộ Công thương chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành xây dựng phương án bình ổn trình Chính phủ quyết định. Các biện pháp bình ổn được thực hiện theo nguyên tắc phù hợp cơ chế thị trường, kết hợp điều hòa nguồn cung, chính sách thuế, tài chính, tiền tệ, Quỹ bình ổn giá xăng dầu (nếu có) và các công cụ khác theo quy định.
Ngày 3.8, tại cuộc họp thường kỳ Chính phủ, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Công thương khẩn trương hoàn thiện dự thảo nghị định thay thế Nghị định số 83, trong đó có quy định về hệ thống phân phối xăng dầu, giải pháp điều hành giá trong nước và sử dụng hiệu quả Quỹ Bình ổn giá xăng dầu.



