Giữa vùng biển Tây Nam, Thổ Châu là đảo tiền tiêu cấp 1 giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Suốt 25 năm qua, cựu chiến binh Cao Văn Nu đã chọn gắn bó với hòn đảo này, cùng bộ đội và người dân góp phần gìn giữ vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Hành trình vượt sóng đến đảo tiền tiêu
Nhập ngũ năm 1984, ông Cao Văn Nu lên đường làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia. Năm 1989, ông xuất ngũ với quân hàm trung sĩ, trở về quê nhà ở ấp Xẻo Lá, xã Tân Thạnh, huyện An Minh (Kiên Giang cũ) – vùng đất miệt thứ heo hút, nghèo khó. Gia đình đông anh em nhưng chỉ có vài công ruộng, năm nào cũng mất mùa. Lập gia đình, ông xin ra ở riêng, vợ chồng bắt đầu dựng xây cuộc sống từ hai bàn tay trắng. Người cựu binh ấy làm đủ nghề để mưu sinh: chở củi, đi ghe siệp, làm rừng, đốt than... Khi ba cô con gái lần lượt chào đời, gánh nặng cơm áo càng đè nặng trên vai.
Nghe tin Thổ Châu có tiềm năng phát triển nghề hậu cần thủy sản, ông bàn với vợ đưa cả gia đình ra đảo lập nghiệp. Năm người dắt díu nhau vượt biển trong những ngày tàu khách còn thưa thớt, nhiều ngày mới có một chuyến. Hơn mười giờ lênh đênh giữa biển khơi, trước mắt họ là một hòn đảo xa lạ và một tương lai hoàn toàn mờ mịt.
Gian nan nơi đầu sóng
Đảo buồn xa ngái, trước mặt là biển sau lưng là rừng rậm. Đảo không đường sá, không điện nước; bộ đội trở thành chỗ dựa của người dân, từ dựng chỗ ở, chăm sóc sức khỏe đến lo chuyện học hành cho con trẻ. Những ngày đầu lập nghiệp, vợ chồng ông cùng hai con gái lớn, khi ấy mới ngoài mười tuổi, quần quật xẻ mực từ sáng đến tối nhưng tiền công mỗi ngày chỉ hơn 100.000 đồng. Năm miệng ăn chen chúc trong căn nhà thuê nhỏ. Để nuôi gia đình, người cựu binh làm đủ nghề, từ đi ghe biển, vác cây, phụ hồ... Còn vợ ông vẫn tảo tần với gánh bánh, rong ruổi khắp xóm trên, xóm dưới.
Nhớ lại quãng thời gian ấy, ông Cao Văn Nu bộc bạch: "Hồi mới ra đây buồn lắm, xa đất liền, xa quê xứ. Điện thì chạy máy phát, nước sạch dùng dè sẻn từng giọt, sóng điện thoại lúc có lúc không. Phương tiện đi lại khó khăn, nhiều lúc tưởng không thể nào chịu được. Nhưng ở riết rồi cũng quen. Đảo nhỏ, dân ít nên người ta sống đùm bọc và thương nhau lắm".
Không chỉ điều kiện sống thiếu thốn, thiên nhiên ở Thổ Châu cũng vô cùng khắc nghiệt. Gió lớn, bão ghé thất thường. Mỗi năm, người dân phải chuyển bến, dời nhà hai lần, gọi vui là cuộc sống "cuốn theo chiều gió". Mùa gió Tây Nam, họ chuyển sang bãi Dong tránh sóng; đến mùa gió Đông Bắc lại trở về bãi Ngự.
Đường sá cách trở, y tế còn nhiều hạn chế nên người dân sợ nhất là những lúc ốm đau. Ông Cao Văn Nu kể: "Đợt đó con gái đầu mang bầu đứa thứ ba nhưng thai nằm ngang, buộc phải vào Phú Quốc chờ sinh. Tàu khi ấy một tuần mới có một chuyến, đi mất 8 tiếng mà còn thất thường. Đưa con đi chưa bao lâu thì ở đảo, đứa cháu ngoại sốt cao, lên cơn co giật. Ngồi chờ tàu mà lòng như lửa đốt". Vừa có tàu, ông lập tức bồng cháu vào Phú Quốc cấp cứu rồi tiếp tục đưa lên Rạch Giá, TP.HCM điều trị bệnh tim. Có lần đưa cháu đi Chợ Rẫy sạc máy trợ thở, vừa về đến Rạch Giá thì vết mổ nhiễm trùng, máu thấm ướt cả băng, ông lại tất tả quay ngược lên thành phố. "Ở đây nghèo không sợ, chỉ sợ ốm đau vì cách biển, lụy tàu", ông nói. Có những đợt biển động kéo dài, cháu không kịp đi sạc máy, sức khỏe giảm sút rồi liệt tay, chân phải, đành dang dở việc học.
Quyết lòng bám đảo
Thổ Châu là vùng đất được giải phóng muộn nhất cả nước, sau ngày 30.4.1975. Lợi dụng thời điểm quân ta chưa kịp tiếp quản, Khmer Đỏ đưa quân chiếm đóng trái phép, thảm sát hơn 500 người dân trên đảo. Sau khi giành lại quyền làm chủ, Quân khu 9 đưa lực lượng ra đóng quân, vận động người dân đến sinh sống, từng bước hồi sinh hòn đảo tiền tiêu.
Là người lính từng đi qua cuộc chiến chống Pol Pot, ông Cao Văn Nu luôn thấy mình còn một phần trách nhiệm với vùng đảo nơi đầu sóng. Vì thế, dù cuộc sống muôn vàn gian khó, ông vẫn quyết tâm cùng bộ đội bám đất, giữ đảo. Từ một nơi từng không có đường, trường, trạm, Thổ Châu hôm nay đã khoác lên diện mạo mới. Tình quân dân là điểm tựa để hòn đảo hồi sinh. Từ 7 hộ dân đầu tiên năm 1992, đến nay nơi đây đã có hơn 2.000 người đến lập nghiệp, sinh sống. Những chuyến tàu trung tốc cũng rút ngắn khoảng cách giữa đảo với đất liền.
Nhắc về những năm tháng gian truân, ông cựu binh chỉ cười hiền: "Trước là hộ nghèo, giờ cũng thoát diện rồi đó. Sống ở đời phải ráng mà tiến lên". Hỏi có bao giờ nghĩ đến chuyện trở về đất liền, bà Sáu Nhẫn nhìn mấy bộ bàn ghế cũ cùng bộ đồ nghề bếp núc – cả gia tài chắt chiu suốt mấy chục năm trên đảo – rồi cười: "Đồ đạc vầy, đâu phải muốn chuyển đi chuyển về là chuyển được". Ông Cao Văn Nu tiếp lời bằng giọng chậm rãi: "Thì... trời sinh cây cỏ gió sương. Đã chọn sống thì phải gắn bó chứ sao".
Ông cũng như bao người dân Thổ Châu mà tôi có dịp gặp – mộc mạc, nghĩa tình và giàu lòng yêu nước. Họ không ngại gian khó, không chê đảo nghèo, vẫn lặng lẽ cùng bộ đội gìn giữ từng tấc đất nơi đầu sóng. Với họ, "cuống rốn chôn nơi đất liền nhưng có chết cũng phải chết ở đảo". Bởi từ lâu, Thổ Châu đã là quê hương, còn biển là mái nhà.



