Chỉ vài năm trước, vùng biển rạn Bà Đậu (xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng) từng bị tàn phá bởi thuốc nổ và xung điện. Năm 2021, Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD) cùng Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm tiến hành khảo sát đánh giá hiện trạng rạn san hô tại hai điểm rạn Khế và rạn Đất thuộc vùng rạn Bà Đậu. Đến tháng 5/2022, kết quả cho thấy độ phủ của san hô sống chỉ đạt 29,69% tổng độ phủ nền đáy, thấp hơn gần 1% so với khảo sát năm 2021.
Hiện trạng đáng báo động
Ông Đặng Tấn Minh, thôn Hà Lộc, xã Tam Xuân, từng công tác tại lực lượng công an xã và nay là thành viên của Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu, nhớ lại: “Hồi xưa, dân mình còn dùng thuốc nổ đánh cá và xung điện. Chính hành động ấy đã khiến đáy biển trở nên trơ trọi. Các loài hải sản có giá trị kinh tế cao như cá mú, cá chình, tôm hùm dần vắng bóng. Người già trong thôn ra rạn buông câu cả ngày nhưng cũng về tay không”.
Thành lập Tổ cộng đồng theo cơ chế đồng quản lý
Trước thực trạng đó, năm 2022, MCD phối hợp UBND xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (cũ), nay là UBND xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng, thành lập Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Tổ có 43 thành viên, quản lý diện tích 64 ha mặt nước, do ông Nguyễn Xuân Uy (khi ấy là Phó Chủ tịch UBND xã) làm tổ trưởng. Ông Nguyễn Xuân Uy chia sẻ: “Đồng quản lý không phải là việc của riêng cơ quan nhà nước. Đó là khi nhà nước chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm cho chính cộng đồng. Dân biết, dân bàn, dân bảo vệ và dân hưởng lợi. Khi người dân thấy rạn Bà Đậu là mảnh vườn nhà mình, họ sẽ canh giữ từng nhánh san hô như giữ bờ rào nhà mình vậy. Nói thì có vẻ gọn nhẹ, nhưng để có được sự đồng thuận hôm nay là điều không hề dễ dàng. Hơn một năm họp dân liên tục, phân tích cái được, cái mất của việc khoanh vùng bảo vệ và rất nhiều người có nỗi niềm riêng. Có người lo mất bãi đánh bắt, có người nghi ngờ ‘cấm biển thì sống bằng gì’”.
Sau khi thành lập, tổ được chia thành nhiều nhóm nhỏ: nhóm phụ nữ lo tuyên truyền, dọn vệ sinh khu chợ cá; nhóm thanh niên, nông dân thay phiên tuần tra. Mỗi nhóm từ năm đến bảy người. Họ không có quyền xử phạt, không có phương tiện đầu tư bài bản. Phương tiện di chuyển là những chiếc ghe đi mượn và sự tự nguyện để xua đuổi kẻ lén lút đánh điện, nổ mìn, làm nguy hại đến môi trường.
Kết quả bước đầu và những khó khăn
Nhờ sự nỗ lực của Tổ cộng đồng, hệ sinh thái khu vực đã cải thiện đáng kể. Theo đánh giá của các nhà khoa học, hệ sinh thái hiện khá đa dạng, ghi nhận sự trở lại của nhiều loại hải sản “khó tính”, trong đó có tôm hùm. Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hội Nông dân xã Tam Xuân Lê Văn Hiệp, việc phục hồi một vùng biển không phải chuyện một, hai năm. Báo cáo gần đây nhất chưa ghi nhận cá mú, cá chình xuất hiện trở lại, chỉ có các loại ốc đụn, ốc giấy mới xuất hiện lác đác. Dù vậy, thu nhập của ngư dân thôn Hà Lộc đã được cải thiện. Ông Võ Quang Toản, thôn Hà Lộc, cho biết: “Mấy năm trước quăng lưới cả đêm không đủ tiền dầu. Giờ nhờ giữ được rạn, cá từ rạn sinh sôi tràn ra chung quanh, tàu thuyền khai thác được nhiều hơn. Không ít hộ ra rạn ngồi câu, mỗi ngày cũng kiếm được vài trăm nghìn để cải thiện cuộc sống”. Nhiều người dân coi đó là “cái phúc của việc bảo tồn”, là “biển trả nợ người”.
Bên cạnh những kết quả tích cực, Tổ cộng đồng đối mặt nhiều khó khăn. Ông Lê Văn Hiệp cho biết, tổ không có con dấu, không có tài khoản ngân hàng nên khó tiếp nhận các khoản hỗ trợ. “Khi chưa thực hiện chính quyền hai cấp, huyện Núi Thành (cũ) có một tỷ đồng cho đề án thủy sản mỗi năm, nhưng luật ngân sách không cho phép chi thẳng cho một tổ chức không có tư cách pháp nhân, nên tiền cứ để đó. Có lần, một quỹ hứa hỗ trợ 200 triệu đồng đóng thuyền tuần tra vùng rạn cách bờ hơn hai cây số, nhưng vướng đúng thủ tục ấy, nên khoản tiền vẫn ‘nằm yên’. Anh em trong tổ tuần tra phải mượn ghe của dân, tự bỏ xăng dầu”, ông Hiệp chia sẻ.
Ông Nguyễn Xuân Uy bổ sung: “Tổ không có quyền xử phạt nên chỉ có thể vận động hoặc xua đuổi người dân ở nơi khác đến khai thác trái phép. Họ bảo vệ một bãi đẻ của tôm cá, cũng là lá chắn cho thuyền nhỏ và sinh kế cho cả làng”. Chính sự phục hồi nguồn lợi khiến rạn Bà Đậu trở thành “miếng mồi” hấp dẫn với những người đánh bắt bằng xung điện và thuốc nổ, buộc tổ phải “canh giữ” vất vả hơn – bằng ghe mượn, tiền túi, và lòng tin giữa người dân với nhau.
Hướng tới phát triển bền vững
Mô hình đồng quản lý tại rạn Bà Đậu không phải là đầu tiên. Năm 2013, Ban Quản lý Tiểu khu đồng quản lý thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp (Cù Lao Chàm) được thành lập sau khi Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đến năm 2017, Luật Thủy sản ra đời mở hành lang pháp lý để nhân rộng mô hình này. Hiện nay, MCD và Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) đang kết nối du lịch cộng đồng từ Tam Xuân sang xã đảo Tam Hải – nơi có rạn Bàn Than với diện tích hơn 400 ha đang được nghiên cứu để lập khu bảo tồn biển mới.
Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, nhấn mạnh: “Chuyển đổi xanh trong kinh tế biển là chủ trương xuyên suốt của Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030. Muốn vậy, cả nước cần nhiều hơn những ‘vùng xanh’ – vùng biển được bảo tồn hoặc phục hồi – để lan tỏa nguồn lợi ra cả dải ven bờ. Với 64 ha vùng bảo tồn ở Tam Xuân tuy không lớn, nhưng đó là một trong những viên gạch đầu tiên của chiến lược ấy”. Thủy triều lên, rạn Bà Đậu lại chìm dần. Những ngư dân già rời cần câu, xách theo mớ cá đủ cho một ngày công. Họ không nghĩ mình đang làm một việc có ý nghĩa lớn lao – họ chỉ đang giữ “mảnh vườn” dưới nước của mình, sáng đi biển, chiều về có cá, gìn giữ như cha ông để lại.



