Đổi mới mô hình phát triển: Chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu
Mô hình phát triển mới: Năng suất, tri thức, công nghệ

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã xác định một trong bốn bước chuyển chiến lược là xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế TP.HCM, đây là sự chuyển biến tích cực về tư duy phát triển, từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Ông nhấn mạnh đây là bước thoát khỏi tăng trưởng theo chiều rộng, chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu, nơi giá trị gia tăng đến từ chất xám và công nghệ, không còn phụ thuộc vào lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên.

Để bước chuyển này thành công, GS.TS Bảo cho rằng cần ba điều kiện then chốt theo tinh thần bài phát biểu khai mạc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Thứ nhất là thể chế quản trị hiện đại, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng. Thứ hai là phát huy đồng thời vai trò của Nhà nước kiến tạo và thị trường trong huy động, phân bổ nguồn lực, với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế tư nhân là động lực quan trọng. Thứ ba là gắn thu hút đầu tư nước ngoài với yêu cầu chuyển giao công nghệ để nâng cao năng lực nội sinh.

Nghị quyết 19-NQ/TW và 12 nhiệm vụ kinh tế

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam nêu rõ 12 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể về kinh tế cho giai đoạn đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130. Các nhiệm vụ bao quát nhiều lĩnh vực như xác lập mô hình tăng trưởng mới, tổ chức lại không gian phát triển, xây dựng Việt Nam thành quốc gia mạnh về biển, phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm, phát triển thị trường nhân tố sản xuất, thị trường hàng hóa phái sinh, hạ tầng chiến lược hiện đại, tái cấu trúc hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, đẩy mạnh đô thị hóa.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Với vai trò đầu tàu kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh được định hướng trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tầm quốc tế. GS.TS Bảo nhận định thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, không chỉ mở rộng quy mô mà còn phải thí điểm các mô hình phát triển mới. Bên cạnh các động lực truyền thống, TP.HCM xác định ba động lực tăng trưởng mới: trung tâm tài chính quốc tế, hệ thống cảng biển và logistics, khoa học công nghệ và chuyển đổi số xanh. Mục tiêu tăng trưởng GRDP hơn 10% và kinh tế số chiếm khoảng 30% GRDP trong năm 2026.

Ba đột phá của TP.HCM

Đột phá thứ nhất là hoàn thiện trung tâm tài chính quốc tế tại Thủ Thiêm, dự kiến vận hành đầy đủ từ năm 2027, giúp thu hút dòng vốn quốc tế quy mô lớn, nâng cao vị thế thị trường tài chính Việt Nam và hỗ trợ nâng hạng thị trường chứng khoán. Trung tâm này sẽ giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng truyền thống, chuyển sang huy động vốn qua trái phiếu và quỹ đầu tư quốc tế. Đột phá thứ hai là xây dựng hạ tầng kết nối vùng – cảng biển, logistics, đường sắt đô thị, giúp TP.HCM lan tỏa động lực ra Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ. Đột phá thứ ba là đưa đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, AI và chuyển đổi xanh trở thành năng suất thực sự trong từng doanh nghiệp.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Theo GS.TS Bảo, nếu làm tốt đồng thời cả ba hướng với tốc độ triển khai vượt trội, TP.HCM sẽ tiên phong kiến tạo mô hình tăng trưởng mới, xứng đáng với vai trò phòng thí nghiệm thể chế mà cả nước đang dõi theo.

Điểm nghẽn trong thực thi chính sách

Khi được hỏi về điểm nghẽn lớn nhất, GS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo chỉ ra năng lực thực thi chính sách – khả năng chuyển hóa định hướng và cải cách thể chế thành quyết định kịp thời, hành động cụ thể và kết quả đo lường được. Ông cho rằng chúng ta không thiếu định hướng đúng về đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, khoa học công nghệ, nhưng khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn còn lớn. Nguồn lực tài chính và con người không thiếu, nhưng chưa được giải phóng và phân bổ đúng nơi, đúng thời điểm.

Ông đề xuất bốn vấn đề cần xử lý. Thứ nhất, khi ban hành chính sách phải bảo đảm định mức chi hợp lý và quy trình thực hiện khả thi, tính đầy đủ chi phí thực thi ngay từ khâu thiết kế. Thứ hai, nâng cao năng lực thực thi của cán bộ, công chức, chuyển từ tư duy kiểm soát sang kiến tạo, dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Thứ ba, tăng cường liên kết giữa chính quyền, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng, công bố dữ liệu kinh tế – xã hội công khai, kịp thời để huy động trí tuệ xã hội. Thứ tư, thiết lập cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, song song kiểm soát quyền lực chặt chẽ, phân định rõ sai phạm do vụ lợi với rủi ro trong đổi mới chính sách.