Luật Dầu khí sửa đổi: Tái định vị toàn diện ngành dầu khí Việt Nam
Luật Dầu khí sửa đổi: Tái định vị toàn diện ngành dầu khí

Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) không chỉ đơn thuần là sửa đổi một đạo luật chuyên ngành mà phải là cuộc tái định vị toàn diện vai trò của ngành dầu khí trong mô hình phát triển và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong vài thập kỷ tới. Đây là nhận định của TS. Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam khi chia sẻ với Người Đưa Tin.

Chuyển đổi tư duy từ quản lý tài nguyên sang quản trị không gian dầu khí - năng lượng

Theo TS. Nguyễn Quốc Thập, thay vì chỉ giải quyết khó khăn trước mắt, Luật sửa đổi phải kiến tạo một khuôn khổ pháp lý dài hạn để đưa ngành dầu khí – năng lượng Việt Nam trở thành một trụ cột của an ninh năng lượng, kinh tế biển và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia. Để làm được điều đó, Việt Nam buộc phải dũng cảm bước qua tư duy lối mòn về 'quản lý tài nguyên dầu khí' để tiệm cận tư duy hiện đại: 'quản trị và phát triển không gian dầu khí – năng lượng quốc gia'.

Ba chuyển đổi căn bản được ông đề cập gồm: từ quản lý tài nguyên sang kiến tạo phát triển; từ dầu khí truyền thống sang công nghiệp – năng lượng tích hợp; và từ bảo đảm nguồn cung trước mắt sang xây dựng năng lực tự chủ năng lượng dài hạn.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Luật chơi công bằng giữa Nhà nước và nhà đầu tư

Sự chuyển dịch triết lý sâu sắc nhất nằm ở việc thiết lập lại một luật chơi công bằng giữa Nhà nước và nhà đầu tư, dịch chuyển từ môi trường 'xin phép và kiểm soát' sang 'hợp tác và chia sẻ rủi ro'. 'Tôi kỳ vọng Luật sửa đổi sẽ tạo ra một thông điệp rõ ràng: Nhà nước và nhà đầu tư không chỉ chia sẻ lợi ích khi có dầu khí, mà phải có cơ chế hợp lý để chia sẻ rủi ro trong toàn bộ vòng đời dự án', Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam bày tỏ.

TS. Nguyễn Quốc Thập phân tích, hoạt động dầu khí có bản chất khắc nghiệt rất khác các ngành công nghiệp thông thường khi nhà đầu tư phải chấp nhận bỏ ra hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ USD trước khi biết chắc dự án có thành công hay không. Nếu Nhà nước chỉ tập trung vào tối đa hóa phần thu ngân sách lúc thắng lợi mà thiếu đi cơ chế chia sẻ hợp lý khi thất bại, các dòng vốn ngoại sẽ lập tức quay lưng. Sự thay đổi tư duy này chính là chiếc chìa khóa quyết định để biến các mỏ 'không có hiệu quả kinh tế' thành các dự án 'có khả năng đầu tư'.

Ưu đãi tài chính đột phá cho mỏ cận biên

Khắc phục bất cập của Luật Dầu khí 2022 khi xác định đối tượng ưu đãi dựa trên chỉ tiêu tỉ suất hoàn vốn nội tại (IRR) tiệm cận dưới 10% đầy cứng nhắc và dễ bị ảnh hưởng bởi giá dầu, dự thảo mới định nghĩa mỏ cận biên là những mỏ có hiệu quả đầu tư tiệm cận dưới ngưỡng tối thiểu trong điều kiện kinh tế, kỹ thuật thông thường.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Đi kèm với đó là gói ưu đãi tài chính đột phá: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi chỉ 25%, thuế xuất khẩu dầu thô giảm còn 5%, và mức thu hồi chi phí tối đa lên tới 80% sản lượng khai thác hàng năm cho diện ưu đãi đặc biệt. Nhà thầu cũng được sử dụng toàn bộ phần dầu khí lãi để thu hồi chi phí sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế tài nguyên. Đồng thời, đối với dự án nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR), dự thảo cho phép tăng thêm mức thu hồi chi phí tối đa 10% so với hợp đồng hiện hữu, kéo dài thời hạn hợp đồng thêm tối đa 5 năm, và cho phép ký kết hợp đồng mới trước khi hợp đồng cũ kết thúc, kế thừa từ bài học thành công thực tế của dự án JVPC tại Lô 15-2 mỏ Rạng Đông.

'Ưu đãi đầu tư không làm Nhà nước mất đi nguồn thu; ngược lại, trong nhiều trường hợp, nếu không có ưu đãi thì dự án không được triển khai và Nhà nước không có nguồn thu nào cả', TS. Nguyễn Quốc Thập phân tích. Chính vì vậy, tư duy chính sách cần chuyển đổi triệt để từ việc 'Nhà nước thu được bao nhiêu phần trăm?' sang 'Làm thế nào để tối đa hóa tổng giá trị tài nguyên thu được cho quốc gia?'.

Chiến thắng trong cuộc đua giành dòng vốn ngoại

Một đạo luật hoàn thiện phải giúp Việt Nam chiến thắng trong cuộc đua giành dòng vốn ngoại với những đối thủ như Guyana, Brazil hay các nước láng giềng Malaysia, Indonesia dựa trên việc so sánh tổng hòa giữa tiềm năng tài nguyên, điều khoản tài chính, rủi ro địa chất, ổn định pháp lý và thời gian phê duyệt. Đó là lý do TS. Nguyễn Quốc Thập đúc kết rằng thước đo thành công cuối cùng của Luật sửa đổi không nằm ở số lượng điều khoản mới trên giấy, mà phải được chứng minh sau 5 đến 10 năm nữa bằng những hợp đồng dầu khí mới, nhiều giếng khoan thực tế được dựng lên, trữ lượng mới được phát hiện và sản lượng dầu khí thực tế được đưa lên mặt đất.

'Kỳ vọng lớn nhất của tôi là Luật Dầu khí sửa đổi sẽ làm thay đổi bài toán kinh tế của ngành: biến những khu vực hiện nay nhà đầu tư không muốn vào thành nơi đáng để thăm dò; biến những phát hiện chưa thương mại thành mỏ có thể phát triển; và biến phần tài nguyên còn nằm dưới lòng đất thành nguồn năng lượng, nguồn thu và sức mạnh kinh tế thực sự của đất nước', ông nói.

Xác lập rõ vai trò cơ quan đại diện nước chủ nhà

Một trong những nội dung được nhiều ý kiến góp ý tại dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) là việc làm rõ vai trò của cơ quan đại diện nước chủ nhà trong hoạt động dầu khí. Theo dự thảo, Điều 56 và Điều 57 chưa quy định cụ thể vai trò thay mặt nước chủ nhà của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), đồng thời Điều 60 cũng chưa có quy định chuyển tiếp để xử lý các nghĩa vụ mà Tập đoàn đã thực hiện thay nước chủ nhà trước đây.

Trao đổi tại hội thảo góp ý dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) do Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp.HCM phối hợp với Petrovietnam tổ chức ngày 24/6 tại Tp.HCM, ông Lê Ngọc Sơn - Chủ tịch HĐTV Petrovietnam cho biết, nhiều năm qua, tập đoàn đã thực hiện vai trò đại diện nước chủ nhà với tư cách là một bên ký kết hợp đồng dầu khí, thực hiện quyền và nghĩa vụ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước theo ủy quyền của Nhà nước. Tuy nhiên, nội hàm công việc này vẫn chưa được quy định đầy đủ trong luật.

Theo ông Sơn, việc xác lập rõ tư cách pháp lý của cơ quan đại diện nước chủ nhà có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc kiện tụng quốc tế. Khi được luật quy định rõ, cơ quan đại diện nước chủ nhà sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện quyền, nghĩa vụ và tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh, qua đó giảm thiểu rủi ro pháp lý cho Nhà nước.

Để bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, ông Lê Ngọc Sơn đề xuất sử dụng khái niệm 'cơ quan đại diện nước chủ nhà' thay vì quy định trực tiếp tên Petrovietnam trong Luật. Cách tiếp cận này sẽ tạo dư địa để Chính phủ chủ động điều chỉnh cơ quan thực hiện khi cần thiết mà không phải sửa đổi luật.

Bên cạnh đó, Petrovietnam cũng kiến nghị bổ sung quy định chuyển tiếp tại Điều 60 nhằm xử lý các nghĩa vụ của nước chủ nhà trong các hợp đồng dầu khí đã ký kết, đồng thời cho phép áp dụng cơ chế sử dụng nguồn thu từ phần dầu, khí của nước chủ nhà để thực hiện một số nghĩa vụ tài chính liên quan, bảo đảm tính liên tục trong triển khai các dự án.

Phân cấp thẩm quyền để rút ngắn thủ tục

Theo Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, thay vì tập trung quá nhiều thẩm quyền ở cấp Chính phủ, nhiều nội dung khi sửa Luật Dầu khí có thể được giao cho Bộ Công Thương và Petrovietnam chủ động quyết định. Các nội dung như kế hoạch lựa chọn nhà thầu, nội dung hợp đồng dầu khí, kế hoạch phát triển mỏ, báo cáo tài nguyên và trữ lượng... nếu được phân cấp hợp lý sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, nâng cao tính chủ động của cơ quan quản lý và doanh nghiệp, đồng thời giảm chi phí cơ hội cho nhà đầu tư.

Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng, trong một lĩnh vực có tính cạnh tranh quốc tế cao như dầu khí, tốc độ ra quyết định và khả năng phản ứng với thị trường là những yếu tố quan trọng. Một quy trình phê duyệt kéo dài có thể khiến cơ hội đầu tư dịch chuyển sang các quốc gia khác có môi trường pháp lý thuận lợi hơn.

Dưới góc độ cơ quan thẩm tra, ông Phan Văn Mãi - Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh, đối với các nội dung có tính chất biến động theo thời gian, tinh thần sửa Luật Dầu khí lần này là xây dựng 'luật khung' nhằm quy định rõ thẩm quyền hướng dẫn và điều hành công việc cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu là lược bỏ các khâu trung gian không cần thiết, tạo khung pháp lý thông thoáng và không phát sinh thêm vướng mắc mới.

Từ mục tiêu đó, ông yêu cầu ban soạn thảo phải rà soát kỹ lưỡng nhằm giảm bớt các tầng nấc trung gian, đồng thời việc phân cấp, phân quyền cần được định hình rõ ràng trong thiết kế luật này. Ông Phan Văn Mãi cũng thẳng thắn chỉ ra thực trạng quy trình hiện nay còn qua quá nhiều khâu trung gian từ các Bộ, ngành đến các đơn vị trực thuộc, gây bó buộc và khó khăn trong công tác thực thi.