Nông nghiệp bứt tốc nhờ khoa học công nghệ, chuyển đổi số và xanh
Nông nghiệp bứt tốc nhờ khoa học công nghệ, chuyển đổi số

Vượt chỉ tiêu tăng trưởng 3,7% được giao, GDP toàn ngành nông nghiệp nửa đầu năm 2026 ước tăng hơn 3,8%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu và biến động thương mại thế giới được dự báo sẽ tạo sức ép lớn lên tăng trưởng, đòi hỏi ngành nông nghiệp khơi thông những động lực phát triển mới, trong đó khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là yếu tố quyết định.

Sản xuất giữ nhịp, năng suất tăng

Sự ổn định của sản xuất trong các lĩnh vực chủ lực chính là nền tảng cho kết quả trên. Vụ lúa đông xuân 2026, cả nước gieo cấy hơn 2,9 triệu ha, giảm gần 38.000 ha so với cùng kỳ, nhưng năng suất tăng thêm 1,2 tạ/ha nên sản lượng vẫn đạt khoảng 20,5 triệu tấn, tăng hơn 88.000 tấn. Điều này cho thấy việc cơ cấu lại ngành lúa gạo đang đi đúng hướng: giảm diện tích nhưng không giảm sản lượng, đồng thời từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng đất và giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị canh tác.

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản tiếp tục đóng góp quan trọng. Tổng sản lượng thủy sản nửa đầu năm đạt gần 5 triệu tấn, tăng 3,6%, khẳng định vai trò ngành hàng chủ lực. Hoạt động thương mại nhờ đó duy trì đà tăng trưởng, tạo tiền đề cho các tháng cuối năm.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Nhiều ngành hàng đạt kim ngạch tích cực

Trong sáu tháng đầu năm, một loạt ngành hàng ghi nhận kết quả xuất khẩu khả quan. Thủy sản đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11,4%; rau quả đạt 3,6 tỷ USD, tăng 17,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,5 tỷ USD, tăng 4,4%. Đáng chú ý, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tăng tới 34,6% – mức cao nhất trong các ngành hàng – nhờ mô hình sản xuất theo hướng trang trại an toàn sinh học được nhân rộng, giúp nâng cao năng suất, kiểm soát dịch bệnh và đáp ứng tốt hơn yêu cầu thị trường.

Bất chấp kinh tế thế giới liên tục biến động, nông sản Việt Nam vẫn giữ vững các thị trường xuất khẩu lớn. Giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 23,1%, sang Nhật Bản tăng 1,6%. Sự ổn định này phản ánh nỗ lực đa dạng hóa thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.

Rau quả dẫn dắt tăng trưởng nhờ thị trường Trung Quốc

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết xuất khẩu rau quả có mức tăng trưởng nổi bật nhờ nhu cầu nhập khẩu ổn định từ Trung Quốc và hoạt động thông quan thuận lợi hơn.

“Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Việc có thêm nhiều loại trái cây được xuất khẩu chính ngạch theo các nghị định thư đã thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư bài bản hơn vào vùng nguyên liệu và xây dựng chuỗi liên kết bền vững, từ đó gia tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa,” ông Nguyên nhấn mạnh.

Khơi thông động lực từ khoa học công nghệ và chuyển đổi số

Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 4% cho cả năm, ngành nông nghiệp cần tiếp tục khơi thông động lực mới từ khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, từ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới đến việc làm chủ vaccine thú y, chế phẩm sinh học và hạ tầng dữ liệu số phục vụ quản lý, sản xuất.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Theo ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Bộ đã đề xuất 15 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, xác định 13 sản phẩm có tiềm năng trở thành sản phẩm công nghệ chiến lược. Mô hình hợp tác giữa Nhà nước, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và người dân trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cũng được thúc đẩy mạnh mẽ. Những nỗ lực này sẽ nâng cao khả năng thích ứng biến đổi khí hậu thông qua việc phát triển giống chịu hạn, chịu mặn, tăng cường giám sát dịch bệnh và hỗ trợ dự báo, điều hành sản xuất theo thời gian thực.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã chính thức vận hành từ ngày 1/7. Hệ thống này góp phần nâng cao tính minh bạch, khả năng kiểm soát chất lượng, hỗ trợ xuất khẩu và tăng năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.

Chuyển đổi xanh: bài toán chi phí tuân thủ

Tuy nhiên, để xuất khẩu bứt phá trong những tháng cuối năm, doanh nghiệp cần thêm động lực mở rộng thị trường và thích ứng xu hướng “xanh hóa” thương mại toàn cầu. Ông Đỗ Quốc Hưng, Quyền Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công thương), nhận định các tiêu chuẩn về môi trường và phát triển bền vững như Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) hay tiêu chuẩn ESG đang trở thành rào cản lớn nhất với xuất khẩu trong trung và dài hạn.

“Các tiêu chuẩn này đòi hỏi phải thay đổi căn bản trong mô hình sản xuất với rất nhiều chi phí, từ đầu tư công nghệ, đo lường, báo cáo, kiểm toán đến duy trì hệ thống quản lý. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là gánh nặng lớn có thể làm giảm khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế,” ông Hưng nhấn mạnh. Theo ông, cần xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp, gồm các trung tâm đo lường carbon, hệ thống chứng nhận và cơ chế tài chính xanh. Việc hình thành các cụm sản xuất xanh cũng được xem là giải pháp giảm chi phí tuân thủ thông qua hiệu ứng quy mô.

Nền tảng cho tăng trưởng bền vững

Nửa cuối năm 2026 đặt ra nhiều thách thức, nhưng cũng mở ra cơ hội để nông nghiệp Việt Nam chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng và giá trị bền vững. Với chiến lược đồng bộ từ sản xuất đến thị trường, ngành nông nghiệp kỳ vọng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho những bước phát triển tiếp theo.