Ngân hàng Nhà nước đề xuất nới trần tín dụng cho dự án lớn tại Hà Nội
Theo dự thảo sửa đổi Quyết định 09/2024 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang đề xuất bổ sung điều kiện xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn cho các khách hàng có nhu cầu vốn đầu tư vào các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn thủ đô Hà Nội. Các dự án này phải đã được Hội đồng Nhân dân quyết định chủ trương đầu tư hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân chấp thuận, theo quy định tại Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù.
Mức cấp tín dụng tối đa lên đến 38% vốn tự có
Đối với các dự án tại Hà Nội, mức cấp tín dụng tối đa đề nghị đối với một khách hàng không vượt quá 38% vốn tự có của ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đồng thời, mức cấp tín dụng cho một khách hàng và người có liên quan không vượt quá 52% vốn tự có. Quy định này nhằm giảm rủi ro tập trung tín dụng, đảm bảo nguồn vốn được phân bổ rộng rãi hơn, tránh việc chỉ tập trung vào các khách hàng lớn.
NHNN giải thích rằng việc quy định rõ mức cấp tín dụng tối đa là phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và thông lệ quốc tế. Đối với các nhu cầu vốn lớn, ngân hàng có thể lựa chọn tăng vốn tự có hoặc cấp tín dụng hợp vốn với các ngân hàng khác. Hình thức hợp vốn không chỉ giúp đáp ứng hạn mức cao hơn mà còn nâng cao an toàn hệ thống thông qua việc cùng thẩm định và chia sẻ trách nhiệm.
Kinh nghiệm từ các dự án trọng điểm quốc gia
Trong thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép ngân hàng cấp tín dụng vượt giới hạn để thực hiện nhiều dự án quan trọng, có ý nghĩa kinh tế - xã hội lớn. Ví dụ điển hình bao gồm các dự án thủy điện Sơn La, Lai Châu, Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 và gần đây nhất là dự án nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1. Dự án Quảng Trạch 1 được phê duyệt mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn lớn nhất từ trước đến nay, với 38% vốn tự có cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và 52% cho EVN cùng người có liên quan.
TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính, cho rằng việc mở rộng trần tín dụng cho các dự án lớn tại Hà Nội là phù hợp với tiêu chí ưu tiên các dự án trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng các ngân hàng cần tự quyết định dựa trên đánh giá khả năng trả nợ, hiệu quả sử dụng vốn và tính khả thi của dự án. Ông cũng khuyến khích hình thức cho vay hợp vốn để giảm thiểu rủi ro khi cấp tín dụng quá lớn cho một khách hàng.
Ưu tiên dòng vốn cho đầu tư sản xuất
Trong bối cảnh Chính phủ thúc đẩy các dự án hạ tầng và chương trình tín dụng quy mô lớn để tăng trưởng kinh tế, dòng vốn ngân hàng đang được định hướng chảy mạnh vào các lĩnh vực ưu tiên. Việc nâng trần tín dụng cho các dự án lớn tại Hà Nội có thể mang lại thuận lợi cho nhóm ngân hàng dẫn đầu về tăng trưởng tín dụng, nhưng cũng gây lo ngại về ảnh hưởng đến room tín dụng chung.
TS Nguyễn Trí Hiếu khuyến cáo cần thận trọng khi nâng trần tín dụng, đặc biệt trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng do giá năng lượng nhảy vọt sau chiến sự Trung Đông. Ông cho rằng mức trần tăng trưởng tín dụng 15% cho năm nay vẫn đủ để hỗ trợ tăng trưởng GDP 10% nếu dòng vốn được ưu tiên cho hoạt động kinh doanh sản xuất. Ông đề xuất bỏ room tín dụng đối với từng ngân hàng để họ chủ động hơn trong cho vay và kiểm soát rủi ro thông qua các chỉ số như dư nợ/huy động.
Khuyến khích sử dụng vốn thông qua trái phiếu
TS Huỳnh Thanh Điền, từ Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, ủng hộ việc nâng trần tín dụng cho các dự án lớn tại Hà Nội. Ông cho rằng giới hạn cho vay chỉ là một "chốt chặn" để giảm rủi ro, trong khi các điều kiện xét duyệt như phương án sử dụng vốn và khả năng trả nợ mới là yếu tố quyết định. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Đồng thời, TS Huỳnh Thanh Điền đề xuất khuyến khích các dự án lớn sử dụng vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, chẳng hạn như trái phiếu công trình thủ đô, với sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước. Điều này có thể giúp thu hút vốn với chi phí thấp hơn so với vay ngân hàng, đồng thời góp phần huy động vốn trong dân cư. Ông cũng lưu ý rằng chính sách tín dụng cần linh hoạt để vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa kiềm chế lạm phát trong bối cảnh các yếu tố tác động đang gia tăng.



