Bộ Tài chính vừa công bố báo cáo chỉ ra 6 nhóm khó khăn lớn đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm thể chế, vốn, đất đai, chi phí sản xuất, công nghệ và liên kết chuỗi giá trị. Báo cáo được trình bày tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7/2026.
Thực trạng doanh nghiệp Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Tài chính, đến hết tháng 6/2026, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký hơn 30,6 triệu tỷ đồng. Khối doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 96% số lượng doanh nghiệp và 78% tổng vốn đăng ký. Khối doanh nghiệp Nhà nước hiện có 695 doanh nghiệp, trong khi khu vực FDI có 41.874 doanh nghiệp với 47.132 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký gần 563 tỷ USD.
Bộ Tài chính nhận thấy liên kết giữa doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI còn lỏng lẻo, chưa hình thành được các chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng nội địa đủ sức lan tỏa.
Sáu nút thắt lớn
Một là, thể chế và tổ chức thực hiện: nhiều quy định pháp luật chồng chéo, hướng dẫn thi hành ban hành chậm, thực thi chưa thống nhất giữa các địa phương, tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm ảnh hưởng đến tiến độ dự án.
Hai là, khó khăn trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn và đất đai. Các kênh huy động vốn trung, dài hạn như thị trường vốn, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính chưa phát huy hiệu quả. Vướng mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng và xác định giá đất làm kéo dài thời gian triển khai dự án.
Ba là, chi phí sản xuất cao: giá nguyên liệu, năng lượng, logistics, vốn và lao động vẫn ở mức cao; các yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, ESG và truy xuất nguồn gốc làm tăng chi phí tuân thủ. Chậm hoàn thuế, giải ngân hay thanh toán cũng ảnh hưởng đến dòng tiền doanh nghiệp.
Bốn là, áp lực từ thương mại quốc tế: xu hướng bảo hộ thương mại, biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu giảm phát thải và cơ chế điều chỉnh carbon tạo thêm áp lực. Thị trường trong nước và chuỗi cung ứng nội địa chưa thực sự là bệ đỡ cho doanh nghiệp.
Năm là, công nghệ và đổi mới sáng tạo: cơ chế khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo chưa đủ mạnh; liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế. Nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực số và công nghệ, chưa đáp ứng nhu cầu.
Sáu là, liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp còn yếu, hạn chế chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng và hình thành chuỗi giá trị trong nước.
Giải pháp tháo gỡ
Bộ Tài chính đề xuất hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy nhanh số hóa thủ tục hành chính. Về vốn, cần hoàn thiện cơ chế cho vay dựa trên dòng tiền, đơn hàng và dữ liệu; mở rộng tài sản bảo đảm; phát triển thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và tài trợ chuỗi cung ứng; bảo đảm thanh toán đúng hạn đối với hoàn thuế, đầu tư công và mua sắm công.
Về đất đai, cần tháo gỡ vướng mắc, xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ, công khai dữ liệu quy hoạch, đẩy nhanh đầu tư hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, khu công nghiệp và hạ tầng số.
Để giảm chi phí tuân thủ, Bộ đề xuất thống nhất quy chuẩn, áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra chuyên ngành, rà soát thuế, phí và phụ phí logistics, kết nối dữ liệu giữa các cơ quan để rút ngắn thời gian thông quan.
Nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách đổi mới xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh và ESG, phát huy thị trường trong nước, thúc đẩy nghiên cứu phát triển, thương mại hóa công nghệ và đào tạo nhân lực theo nhu cầu doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, Bộ đề xuất tập trung nguồn lực vào các ngành nền tảng và công nghiệp chiến lược, đẩy nhanh dự án trọng điểm, nâng cao hiệu quả quản trị, phát triển hệ thống nhà cung ứng trong nước. Với khu vực tư nhân, cần bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai, đầu tư công và mua sắm công; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực quản trị, mở rộng quy mô, tham gia sâu vào chuỗi giá trị; khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.
Với khu vực FDI, định hướng chuyển từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên dự án công nghệ cao, R&D, năng lượng sạch, hạ tầng số và công nghiệp hỗ trợ; gắn ưu đãi với cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và sử dụng nhà cung ứng Việt Nam.
Cuối cùng, Bộ Tài chính đề xuất thiết lập cơ chế liên kết giữa ba khu vực doanh nghiệp, lựa chọn các ngành có khả năng lan tỏa cao để xây dựng chuỗi giá trị. Hiệu quả liên kết sẽ được đánh giá qua các chỉ tiêu như tỷ lệ mua sắm trong nước, số doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa, giá trị hợp đồng cung ứng, số dự án chuyển giao công nghệ và số lao động kỹ thuật được đào tạo.



