Trong khuôn khổ triển khai kế hoạch kiểm toán năm 2025, Kiểm toán Nhà nước đã tiến hành kiểm toán chuyên đề về việc thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư tại các khu kinh tế (KKT) và khu công nghiệp (KCN) trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2022–2024. Đối tượng kiểm toán bao gồm Bộ Tài chính cùng tám địa phương: Quảng Ninh, Bình Thuận, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Đồng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội và Quảng Bình.
Đóng góp tích cực nhưng bộc lộ nhiều hạn chế
Kết quả kiểm toán khẳng định, những năm qua, hệ thống KKT và KCN trên cả nước đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và của cả nước. Các khu này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhà nước, đặc biệt tại những tỉnh, thành có nhiều KCN phát triển mạnh như Bắc Ninh, Đồng Nai, Hà Nội hay Quảng Ninh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, Kiểm toán Nhà nước cũng chỉ ra hàng loạt tồn tại, bất cập cả về mặt cơ chế chính sách lẫn công tác tổ chức thực hiện tại các bộ, ngành và địa phương. Những vấn đề này đang tạo ra rào cản không nhỏ đối với môi trường đầu tư và hiệu quả hoạt động của các KKT, KCN.
Những bất cập nổi bật trong hệ thống cơ chế, chính sách
Một trong những vấn đề được nhấn mạnh là những bất cập trong hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư tại KKT, KCN. Cụ thể, quy định của Luật Đầu tư năm 2020 về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư vẫn còn những điểm chưa hợp lý. Đối với nhiều dự án đầu tư nước ngoài, dù đã được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND cấp tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư, nhà đầu tư vẫn phải tiếp tục thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Điều này dẫn đến tình trạng trùng lặp hồ sơ, giấy tờ trong khi nội dung dự án không thay đổi, làm kéo dài thời gian xử lý thủ tục hành chính và gây khó khăn không cần thiết cho nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, quy định về việc lưu trú của chuyên gia, lao động nước ngoài trong KCN cũng tồn tại sự thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật. Trước đây, một số nghị định cho phép chuyên gia, nhà quản lý nước ngoài được lưu trú tại doanh nghiệp trong KCN, nhưng quy định mới tại Nghị định 35/2022 lại chỉ cho phép lưu trú tại các cơ sở lưu trú thuộc đất dịch vụ của KCN và chưa có quy định chuyển tiếp rõ ràng, gây lúng túng trong quá trình thực hiện.
Vướng mắc trong chính sách ưu đãi thuế và công tác quản lý
Một số bất cập cũng được phát hiện trong chính sách ưu đãi thuế. Chẳng hạn, quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản ở những địa bàn không thuộc vùng khó khăn chỉ nêu mức thuế suất 15% nhưng chưa quy định rõ thời gian áp dụng cụ thể.
Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa có hướng dẫn cụ thể về cách xác định mức ưu đãi thuế đối với các dự án đầu tư nằm trong khu công nghiệp có vị trí trải trên cả địa bàn thuận lợi và địa bàn khó khăn. Sự thiếu thống nhất giữa các quy định về ưu đãi đầu tư và các văn bản hướng dẫn của ngành thuế đã khiến nhiều doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương gặp khó khăn trong quá trình áp dụng, dẫn đến tình trạng giải thích và thực thi không đồng bộ.
Công tác tổ chức quản lý tại các KCN cũng bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể. Theo kết quả kiểm toán, mô hình "một cửa, tại chỗ" tại một số địa phương chưa được thực hiện đầy đủ do nhiều thủ tục hành chính vẫn do các sở, ngành khác đảm nhiệm, thay vì được ủy quyền cho Ban quản lý các khu công nghiệp. Điều này khiến doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục tại nhiều cơ quan khác nhau, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian thực hiện, giảm tính cạnh tranh của môi trường đầu tư.
Đáng chú ý, một số nhiệm vụ quản lý nhà nước quan trọng như cấp giấy phép môi trường, lập quy hoạch phân khu hay quy hoạch chi tiết hiện vẫn thuộc thẩm quyền của cơ quan cấp tỉnh hoặc cấp huyện mà chưa có cơ chế ủy quyền cho Ban quản lý KCN. Đồng thời, Ban quản lý các KCN cũng chưa được trang bị chức năng thanh tra và xử lý vi phạm, dẫn đến khó khăn trong công tác giám sát hoạt động của doanh nghiệp trong khu, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tổng thể.
Thu hút đầu tư dàn trải và hiệu quả sử dụng đất chưa cao
Bên cạnh những bất cập về cơ chế chính sách, kết quả kiểm toán cũng cho thấy việc thu hút và phát triển các KKT, KCN tại nhiều địa phương còn thiếu định hướng rõ ràng và chiến lược dài hạn. Hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư hiện nay vẫn còn khá dàn trải, chưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ để định hướng dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, công nghệ hiện đại hoặc có tác động lan tỏa tích cực đối với nền kinh tế.
Phần lớn các chính sách ưu đãi vẫn tập trung vào các yếu tố đầu vào như vốn đầu tư hay số lượng lao động sử dụng, trong khi chưa chú trọng đúng mức đến yếu tố công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả đầu ra của dự án. Thực tế cho thấy trong giai đoạn 2022–2024, trong tổng số 73 KCN được chấp thuận chủ trương đầu tư trên cả nước, chỉ có 7 khu nằm tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và 23 khu nằm tại địa bàn khó khăn. Điều này cho thấy chính sách ưu đãi hiện hành chưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ để thu hút đầu tư vào những khu vực còn nhiều khó khăn, dẫn đến sự chênh lệch trong phát triển giữa các vùng miền.
Một số địa phương cũng còn tình trạng đề xuất thành lập KCN theo địa giới hành chính mà chưa bám sát lợi thế cạnh tranh, khả năng thu hút đầu tư hoặc hiệu quả sử dụng đất đai. Điều này dẫn đến tình trạng quy hoạch còn dàn trải, thiếu tính liên kết chặt chẽ với quy hoạch hạ tầng xã hội, nguồn nhân lực và phát triển đô thị, làm giảm hiệu quả tổng thể của các khu công nghiệp.
Thách thức về hạ tầng và đời sống người lao động
Ngoài ra, nhiều KCN hiện vẫn phát triển theo mô hình đa ngành, đa lĩnh vực với mục tiêu chủ yếu là tăng tỷ lệ lấp đầy diện tích đất, trong khi chưa hình thành được nhiều khu công nghiệp chuyên ngành hay các cụm liên kết ngành có giá trị gia tăng cao. Kết quả kiểm toán cũng cho thấy hiệu quả sử dụng đất tại một số KCN chưa cao, vẫn còn tình trạng dự án chậm triển khai, được giao đất hoặc thuê đất nhưng không đưa vào sử dụng. Tỷ lệ lấp đầy tại một số khu còn thấp do gặp khó khăn trong việc thu hút nhà đầu tư thứ cấp.
Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật tại một số KCN chưa được đầu tư đồng bộ và đầy đủ. Một số nhà đầu tư hạ tầng chưa thực hiện đầy đủ cam kết về tiến độ xây dựng hạ tầng hoặc điều chỉnh dự án nhiều lần. Hệ thống xử lý nước thải và quan trắc môi trường tại một số KCN còn thiếu hoặc hoạt động chưa hiệu quả, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Đời sống của người lao động trong KCN cũng đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm. Cơ chế khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở, công trình văn hóa, thể thao, cơ sở giáo dục mầm non phục vụ người lao động vẫn chưa đủ hấp dẫn. Nhiều địa phương chưa gắn kết chặt chẽ quy hoạch khu công nghiệp với quy hoạch nhà ở và các công trình phúc lợi xã hội cho công nhân, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của các KCN.
Kiến nghị khắc phục và hoàn thiện khung pháp lý
Trên cơ sở các phát hiện nêu trên, Kiểm toán Nhà nước đã đưa ra những kiến nghị cụ thể đối với Bộ Tài chính và các địa phương. Cơ quan này yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc rà soát, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư tại KKT, KCN, đảm bảo môi trường đầu tư thông thoáng và minh bạch hơn.
Đồng thời, Kiểm toán Nhà nước cũng đề nghị tổng hợp các vướng mắc, bất cập trong cơ chế, chính sách để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo các bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý. Mục tiêu là tháo gỡ kịp thời những rào cản, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và sức hấp dẫn của các KKT, KCN trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.



