Phòng thí nghiệm quốc gia: 20 năm đầu tư, khoảng cách thương mại hóa còn xa
Phòng thí nghiệm quốc gia: 20 năm đầu tư, thương mại hóa còn xa

Sau hơn hai thập kỷ đầu tư xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa vẫn còn rất xa. Không ít nhà khoa học vừa phải làm nghiên cứu, vừa lo tìm kiếm nguồn lực để duy trì hoạt động của phòng thí nghiệm.

Những điểm nghẽn kéo dài nhiều năm

Tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc hóa dầu, các nhà khoa học đã phát triển thành công bộ phụ gia giúp tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải trong quá trình sử dụng nhiên liệu rắn và khí. Đây là một sản phẩm có giá trị thực tiễn cao. Nhưng phía sau thành công đó là một hành trình kéo dài tới 7 năm. Khoảng thời gian ấy, các nhà khoa học phải vượt qua hàng loạt rào cản về cơ chế, tài chính và tổ chức vận hành.

GS, TS Nguyễn Thị Thu Hà, đại diện Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc hóa dầu cho biết, các phòng thí nghiệm hiện đang hoạt động theo cơ chế tự chủ, gần như không có nguồn ngân sách hỗ trợ chi thường xuyên hay tiền lương. Mọi nhiệm vụ khoa học công nghệ đều phải tham gia đấu thầu để có kinh phí thực hiện. Các nhà khoa học phải cùng lúc đảm nhiệm nhiều vai trò: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, công bố quốc tế, tìm kiếm nhiệm vụ khoa học công nghệ... “Trách nhiệm đặt lên vai nhà khoa học là rất nặng nề”, GS, TS Hà chia sẻ.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Câu chuyện của Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc hóa dầu phản ánh một thực tế phổ biến: Thành công vẫn có, nhưng để đi từ phòng thí nghiệm ra thị trường đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Sau hơn 20 năm vận hành, nhiều hạn chế bắt đầu bộc lộ rõ.

Lạc hậu về cơ sở vật chất và thiếu tự chủ

Trước hết là tình trạng lạc hậu về cơ sở vật chất. Phần lớn thiết bị được đầu tư trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010. Trong khi đó, vòng đời công nghệ hiện nay chỉ kéo dài từ 3 đến 7 năm. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), mức kinh phí hoạt động bình quân chỉ khoảng hơn 1 tỷ đồng mỗi phòng thí nghiệm mỗi năm, chủ yếu đủ chi trả điện, nước và vật tư tiêu hao.

Không ít phòng thí nghiệm còn thiếu tính tự chủ. Nhiều đơn vị hoạt động như một bộ phận phụ thuộc của trường đại học hoặc viện nghiên cứu, chưa có đầy đủ tư cách pháp nhân để chủ động về nhân sự, tài chính hay chiến lược phát triển. Hệ quả là nguồn lực bị phân tán, hiệu quả khai thác chưa tương xứng với tiềm năng đầu tư. Trong khi đó, cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn còn nhiều rào cản, khiến không ít sản phẩm khoa học gặp khó khăn khi tiếp cận thị trường.

Không chỉ là nơi đặt thiết bị nghiên cứu

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, nhiều chuyên gia cho rằng đã đến lúc cần thay đổi cách nhìn về phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Theo đánh giá của giới chuyên gia, phòng thí nghiệm hiện đại phải là nơi hội tụ tri thức, nhân lực chất lượng cao, dữ liệu khoa học và sự kết nối giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp.

GS, TS Nguyễn Văn Nội, Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, điều quan trọng là các phòng thí nghiệm phải trở thành trung tâm thu hút sự hợp tác giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp. Theo ông, mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc tạo ra các sản phẩm “Made in Vietnam”, mà cần hướng tới những công nghệ “Created in Vietnam” - được sáng tạo bằng trí tuệ Việt Nam.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Quan điểm này cũng phù hợp với xu hướng phát triển của các quốc gia dẫn đầu về khoa học công nghệ. Tại Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đức, những phòng thí nghiệm hàng đầu thường đóng vai trò là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu nghiên cứu, đồng thời chia sẻ nguồn lực và rủi ro với các nhóm khoa học.

Định hướng mới: hệ thống nghiên cứu đồng bộ

Nhận diện rõ những hạn chế hiện nay, Bộ KH&CN đang xây dựng Đề án phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phục vụ các công nghệ chiến lược. Điểm đáng chú ý nhất trong định hướng mới là sự thay đổi về tư duy. Thay vì chỉ tập trung đầu tư các phòng thí nghiệm riêng lẻ, Việt Nam sẽ hướng tới xây dựng một hệ thống hạ tầng nghiên cứu quốc gia đồng bộ.

Trong mô hình này, phòng thí nghiệm không còn hoạt động độc lập mà trở thành một thành phần trong hệ sinh thái lớn hơn, bao gồm trung tâm nghiên cứu, cơ sở dữ liệu khoa học, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, hệ thống thiết bị dùng chung và mạng lưới chuyên gia.

Theo đề xuất của Bộ KH&CN, nguồn lực đầu tư sẽ tập trung vào những lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghiệp bán dẫn, công nghệ sinh học, y sinh, vật liệu tiên tiến và năng lượng mới. Khoảng 60-70% nguồn lực trong giai đoạn đầu dự kiến dành cho các lĩnh vực này. Đặc biệt, hệ thống phòng thí nghiệm sẽ vận hành theo cơ chế mở, cho phép trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương cùng tiếp cận, khai thác hạ tầng nghiên cứu.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ cho biết, các bộ, ngành đang phối hợp xác định những phòng thí nghiệm dùng chung, xây dựng tiêu chí đầu tư và bố trí nguồn lực trung hạn, dài hạn nhằm bảo đảm tính đồng bộ và phát huy hiệu quả của hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm.

Hiện, cả nước có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư trong các lĩnh vực ưu tiên như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu, cơ khí, tự động hóa, hóa dầu và năng lượng. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng cho toàn bộ hệ thống khoảng 967 tỷ đồng, bình quân chưa tới 60 tỷ đồng mỗi phòng thí nghiệm. Con số này được đánh giá là thấp hơn đáng kể so mức đầu tư của nhiều quốc gia có nền khoa học công nghệ phát triển.