Chuyển đổi số logistics: Đại học Việt Nam gắn kết doanh nghiệp đào tạo nhân lực
Chuyển đổi số logistics: Đại học Việt Nam gắn kết doanh nghiệp

Thị trường logistics Việt Nam đang phát triển nhanh nhất khu vực với tốc độ tăng trưởng bình quân 14-16% mỗi năm và quy mô khoảng 40-42 tỷ USD. Tuy nhiên, sự bùng nổ này kéo theo áp lực nhân lực rất lớn. Theo các chuyên gia, từ nay đến năm 2035, ngành logistics có thể cần thêm hơn 350.000 lao động, nhưng nguồn cung hiện chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu. Hiện chỉ khoảng 5-7% lao động được đào tạo bài bản, khiến hơn 85% doanh nghiệp phải đào tạo lại sau tuyển dụng. Khoảng cách giữa chương trình đào tạo và yêu cầu thực tế của doanh nghiệp vẫn còn khá lớn.

Doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình đào tạo

Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu tham gia tuyển dụng sau khi sinh viên tốt nghiệp thì hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào toàn bộ quá trình đào tạo. Tại Chương trình Bàn tròn Giảng viên VALOMA số 4 với chủ đề 'Chia sẻ kinh nghiệm chuyển đổi số tại các cơ sở giáo dục đào tạo ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng tại Việt Nam' do Hiệp hội Phát triển nguồn nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA) phối hợp Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 27/6 tại Hà Nội, bà Vũ Thị Thu Huyền, Giám đốc Chi nhánh miền bắc, Công ty Cổ phần Giải pháp Chuỗi cung ứng Smartlog cho biết phần lớn sinh viên có nền tảng lý thuyết tốt nhưng thiếu trải nghiệm vận hành trên các hệ thống quản trị thực tế như TMS, WMS, ERP, cũng như kỹ năng phân tích dữ liệu. Bà Huyền chia sẻ: 'Nếu sinh viên được thực tập đúng vị trí công việc, được tiếp cận dữ liệu thật và tham gia các dự án thực tế ngay từ khi còn học, thời gian thích nghi sau khi tuyển dụng có thể giảm từ khoảng một năm xuống chỉ còn ba đến bốn tháng.'

Ba nhóm năng lực cốt lõi doanh nghiệp cần

Bên cạnh kỹ năng công nghệ, sinh viên cần có khả năng kết nối giữa bộ phận nghiệp vụ với bộ phận công nghệ thông tin, có tư duy chiến lược và khả năng thích ứng liên tục trước sự thay đổi của công nghệ. Theo bà Huyền, doanh nghiệp hiện tìm kiếm ba nhóm năng lực cốt lõi gồm kiến thức chuyên ngành logistics, năng lực số và tư duy giải quyết vấn đề. Đây cũng là những nội dung cần được tích hợp mạnh mẽ hơn trong chương trình đào tạo đại học.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Hệ sinh thái công nghệ số trong đào tạo

Một trong những giải pháp được nhiều trường đại học triển khai là đưa hệ sinh thái công nghệ số vào toàn bộ quá trình đào tạo. Tiến sĩ Trần Thị Hương, Phó Trưởng khoa Quản lý, Trường Kinh tế, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết sinh viên tại trường không còn chỉ học qua giáo trình mà trực tiếp vận hành các phần mềm doanh nghiệp như SAP ERP, SAP S/4HANA, SAP Transportation Management, AnyLogic, Arena hay Tecnomatix. Thông qua các bài toán mô phỏng trung tâm phân phối, vận tải, kho hàng hoặc trò chơi mô phỏng chuỗi cung ứng Business Builders, sinh viên được trải nghiệm toàn bộ quy trình quản trị logistics trong môi trường gần với thực tế doanh nghiệp. Việc khai thác SAP Analytics Cloud giúp người học hình thành năng lực phân tích dữ liệu, xây dựng dashboard và kể chuyện bằng dữ liệu, những kỹ năng đang ngày càng được doanh nghiệp coi trọng.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Đại học Công nghiệp Hà Nội xây dựng đại học điện tử

Trường đại học Công nghiệp Hà Nội đã xây dựng hệ sinh thái đại học điện tử với hơn 6.700 chức năng phần mềm, chuẩn hóa hơn 500 quy trình quản trị và phát triển hệ thống hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Anh, Trưởng Khoa Kinh doanh số, Trường Kinh tế, Đại học Công nghiệp Hà Nội, quá trình số hóa không chỉ phục vụ công tác quản trị mà còn tạo môi trường để giảng viên và sinh viên hình thành tư duy làm việc trên nền tảng dữ liệu, hướng tới mô hình đại học thông minh ứng dụng AI và Big Data.

Đào tạo đại học chỉ là nền tảng

Ở góc độ chương trình đào tạo, Tiến sĩ Nguyễn Văn Trường, Trường đại học Giao thông Vận tải cho rằng nhiều trường đại học đã bắt đầu đưa các học phần như phân tích dữ liệu chuỗi cung ứng, mô hình hóa, mô phỏng, AI hay tối ưu hóa vận tải vào chương trình giảng dạy. Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn nhìn nhận đào tạo đại học mới chỉ có thể cung cấp nền tảng phương pháp luận. Để đáp ứng tốc độ chuyển đổi số của doanh nghiệp, người học bắt buộc phải tiếp tục cập nhật kiến thức trong suốt quá trình làm việc.

Bốn hướng hợp tác giữa trường và doanh nghiệp

Bà Vũ Thị Thu Huyền đề xuất bốn hướng hợp tác gồm mời chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy các tình huống thực tế; xây dựng chương trình thực tập có cấu trúc; hỗ trợ sinh viên thực hiện khóa luận bằng dữ liệu thật và tổ chức các chương trình đào tạo công nghệ cho giảng viên. Ở góc độ doanh nghiệp logistics, bà Hà Thu Hoa, Giám đốc Điều hành Công ty Cổ phần Vận tải Hàng hải Quốc tế Việt Nam (VIMT) cho rằng khoảng cách giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước đang ngày càng rõ nét. Trong khi nhiều tập đoàn quốc tế đã số hóa toàn bộ chuỗi vận hành, ứng dụng AI, dữ liệu thời gian thực và tự động hóa, thì phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước vẫn quản lý bằng Excel, giấy tờ hoặc các công cụ rời rạc.

Yêu cầu bắt buộc: tiếng Anh, phân tích dữ liệu, kỹ năng số

Theo bà Hoa, sinh viên cần được học trên chính các phần mềm doanh nghiệp đang sử dụng; thực tập tại các doanh nghiệp logistics lớn với các chỉ số đánh giá cụ thể; đồng thời coi tiếng Anh chuyên ngành, phân tích dữ liệu và kỹ năng số là những năng lực bắt buộc. Bà Hoa nhấn mạnh: 'Bên cạnh kỹ năng công nghệ, sinh viên cần có khả năng kết nối giữa bộ phận nghiệp vụ với bộ phận công nghệ thông tin, có tư duy chiến lược và khả năng thích ứng liên tục trước sự thay đổi của công nghệ.'

Chuyển đổi số thay đổi căn bản ngành logistics

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách thức vận hành của ngành logistics. Khi trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và tự động hóa ngày càng được ứng dụng sâu rộng, yêu cầu đối với nguồn nhân lực cũng không còn dừng ở kiến thức chuyên môn truyền thống. Các chuyên gia cho rằng, để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh logistics và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đào tạo nhân lực cần chuyển từ mô hình truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực thực hành, tư duy dữ liệu và khả năng giải quyết các bài toán thực tế. Điều đó chỉ có thể đạt được khi nhà trường, doanh nghiệp và các hiệp hội nghề nghiệp cùng đồng hành trong xây dựng chương trình đào tạo, chia sẻ dữ liệu, công nghệ và môi trường thực hành.