Từ ngày 1/7/2026, Thông tư 116/2026/TT-BCA của Bộ Công an chính thức có hiệu lực, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, trong đó có các quy định về đăng ký tạm trú và hủy bỏ đăng ký tạm trú.
Đăng ký tạm trú theo quy định mới
Theo Điều 12 của Thông tư, công dân thay đổi chỗ ở ngoài nơi đã đăng ký tạm trú có trách nhiệm thực hiện đăng ký tạm trú mới. Trường hợp chỗ ở mới nằm trong phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú, việc đăng ký được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Thông tư này.
Đối với các nhóm đối tượng đặc thù, Thông tư cho phép đăng ký tạm trú thông qua cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp. Cụ thể, học sinh, sinh viên, học viên ở tập trung trong ký túc xá; người lao động ở tập trung tại khu nhà ở, lán trại công trường, nông trường, nông trại, đồn điền; người hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sống trong cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo; trẻ em, người khuyết tật, người không nơi nương tựa được nhận nuôi trong cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo; và người được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội đều có thể thực hiện đăng ký tạm trú qua cơ quan, tổ chức quản lý.
Cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp có trách nhiệm lập danh sách người tạm trú, kèm Tờ khai thay đổi thông tin cư trú của từng người và văn bản đề nghị đăng ký tạm trú, trong đó ghi rõ thông tin về chỗ ở hợp pháp. Danh sách bao gồm các thông tin cơ bản: họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; số định danh cá nhân và thời hạn tạm trú. Cơ quan đăng ký cư trú sẽ cập nhật thông tin về nơi tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú.
Trách nhiệm thông báo khi chấm dứt thuê, mượn, ở nhờ
Khoản 3 Điều 12 quy định: Trường hợp người thuê, mượn, ở nhờ chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ, người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đăng ký cư trú để thực hiện xóa đăng ký tạm trú.
Hủy bỏ đăng ký tạm trú
Điều 13 của Thông tư quy định về hủy bỏ đăng ký tạm trú. Theo đó, nếu cơ quan đăng ký cư trú giải quyết thủ tục đăng ký tạm trú hoặc các thủ tục khác về cư trú không đúng thẩm quyền, không đúng điều kiện và không đúng đối tượng theo quy định của Luật Cư trú, thì phải hủy kết quả đã giải quyết. Trường hợp phức tạp, cơ quan báo cáo Thủ trưởng cấp trên trực tiếp xem xét ra quyết định hủy bỏ.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định hoặc nhận được quyết định của cơ quan cấp trên trực tiếp, cơ quan đã thực hiện có trách nhiệm cập nhật việc hủy bỏ kết quả trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, phục hồi lại trạng thái và thông tin cư trú trước đây. Đồng thời, cơ quan phải thông báo bằng văn bản giấy hoặc điện tử cho công dân, nêu rõ lý do và chuyển lưu tàng thư hồ sơ căn cước, cư trú.



