Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt khi trình bày tờ trình tóm tắt dự án Luật trước Quốc hội sáng 4/8. Việc ban hành Luật nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, kiểm soát các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống trong tình hình mới.
Dự thảo Luật gồm 4 chương, 37 điều, quy định về nguyên tắc, biện pháp, chính sách, nguồn lực và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nội dung cơ bản được xây dựng trên cơ sở thể chế hóa 3 chính sách đã được Chính phủ thông qua, kế thừa các quy định còn phù hợp của pháp luật hiện hành, khắc phục bất cập và bổ sung quy định mới để thực hiện điều ước quốc tế, nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Thiết kế luật khung, bảo đảm tính đồng bộ
Theo Đại tướng Phan Văn Giang, dự thảo Luật được xây dựng theo hướng luật khung, chỉ quy định những vấn đề nền tảng, ổn định lâu dài, thuộc thẩm quyền của Quốc hội, không luật hóa các nội dung kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên sâu. Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền sẽ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt, khả thi, phù hợp với thực tiễn và cam kết quốc tế.
Dự thảo cũng được rà soát để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với pháp luật về quốc phòng, an ninh, phòng chống khủng bố, phòng chống rửa tiền, hóa chất, năng lượng nguyên tử, quản lý ngoại thương, hải quan, khoa học và công nghệ. Điều này giúp tránh chồng chéo và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp pháp.
Bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đơn giản hóa thủ tục
Dự thảo quy định rõ cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình áp dụng biện pháp phòng, chống. Không đặt ra thủ tục hành chính trùng lặp đối với hoạt động nghiên cứu, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu và giao dịch hợp pháp. Đồng thời, không thiết lập cơ chế cấp phép, khai báo, báo cáo, kiểm tra, thanh tra, giám sát song song theo luật này.
Định hướng đơn giản hóa thủ tục theo hướng lồng ghép việc cung cấp, khai thác, chia sẻ thông tin với cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin hiện có của các bộ, ngành, địa phương. Tăng cường sử dụng phương thức điện tử, áp dụng cơ chế ưu tiên, đơn giản hóa phương thức kiểm tra, giám sát đối với tổ chức, doanh nghiệp có chương trình tuân thủ nội bộ tốt.
Ủy ban thẩm tra đề nghị rà soát thêm
Báo cáo thẩm tra do Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới trình bày nêu rõ, Ủy ban nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát về cơ chế đánh giá rủi ro quốc gia, các biện pháp phòng chống, phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt để bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh, đồng thời tạo điều kiện cho phát triển kinh tế-xã hội.
Về tiêu chí đánh giá rủi ro quốc gia (Điều 11), Ủy ban đề nghị cụ thể hóa hơn các tiêu chí, bổ sung chỉ số định lượng hoặc mức đánh giá phù hợp; làm rõ vai trò của doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế; quy định rõ nguyên tắc, phương pháp, nguồn thông tin và trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình đánh giá, cập nhật. Đồng thời, bổ sung quy định về bảo mật thông tin và cơ chế xử lý trường hợp đột xuất tại Điều 12.
Quản lý chặt chẽ các đối tượng và giao dịch đáng ngờ
Về biện pháp quản lý, kiểm soát đối tượng ngoài Danh mục kiểm soát (Điều 15) và giao dịch đáng ngờ liên quan tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Điều 23), cơ quan thẩm tra nhấn mạnh cần quy định chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và cơ chế kiểm tra, giám sát việc áp dụng. Cần bổ sung quy định về trách nhiệm rà soát định kỳ, chấm dứt biện pháp và bồi thường thiệt hại tại Điều 15; quy định rõ trách nhiệm phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan chức năng sau khi tiếp nhận báo cáo tại Điều 23.
Cơ sở dữ liệu quốc gia cần kết nối, đồng bộ
Về Cơ sở dữ liệu quốc gia về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Điều 29), Ủy ban đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát để làm rõ phạm vi thông tin, dữ liệu được thu thập; trách nhiệm cập nhật, khai thác, chia sẻ và quản lý dữ liệu của từng cơ quan. Nghiên cứu thiết kế theo hướng kế thừa, kết nối và khai thác tối đa các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành đã được đầu tư, bảo đảm đồng bộ với chủ trương phát triển chính phủ số, dữ liệu số quốc gia và chuyển đổi số.



