El Nino 2026-2027 đe dọa nông nghiệp ĐBSCL: Kịch bản ứng phó khẩn cấp
Tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 17/6, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng phòng Quản lý vận hành công trình và tưới tiêu thuộc Cục Quản lý và xây dựng công trình thủy lợi, cho biết lượng nước tích trữ tại các hồ chứa và dòng chảy từ thượng nguồn đổ về Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong mùa mưa năm nay sẽ quyết định đáng kể tới mức độ ảnh hưởng của El Nino với sản xuất nông nghiệp vụ đông xuân tới. Dự kiến trong tháng 9, cơ quan chuyên môn sẽ có những thông tin dự báo sớm hơn. Đến khoảng tháng 10 và 11, mức độ ảnh hưởng tại từng khu vực, từng vùng sản xuất sẽ được xác định tương đối cụ thể để các địa phương chủ động triển khai các giải pháp ứng phó phù hợp.
Biến đổi khí hậu và tác động lên nông nghiệp
ThS Lê Năng Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định biến đổi khí hậu diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh khi nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng từ 1,5 - 1,7 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp - một mức tăng khiến giới khoa học toàn cầu lo ngại về nguy cơ vượt ngưỡng kiểm soát. Nông nghiệp là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng và mưa bão bất thường xuất hiện ngày càng dày và khốc liệt hơn. “Tác động kéo theo là đất đai bạc màu, nứt nẻ, giảm sút nghiêm trọng khả năng canh tác. Đồng thời, làm bùng phát các loại sâu bệnh và vi khuẩn gây hại trên cả cây trồng lẫn vật nuôi”, ông Hùng nêu.
Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025 lưu ý khoảng 29-54% diện tích đồng bằng có thể nằm dưới mực nước biển đến cuối thế kỷ này, tùy vào kịch bản thực tế. Những rủi ro này không chỉ đe dọa sinh kế nông nghiệp mà còn làm tăng chi phí hạ tầng, logistics, bảo quản, bảo hiểm, tín dụng và tuân thủ tiêu chuẩn.
Bài học từ các đợt El Nino lịch sử
Theo Báo cáo Dự báo El Nino 2026-2027 của Cục Khí tượng Thủy văn, một số sự kiện El Nino điển hình đã gây tác động nặng nề tại Việt Nam. El Nino 1997-1998 có dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,4 đến +2,5°C, gây hạn hán kéo dài tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, dòng chảy tại Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt mạnh. Đặc biệt tại ĐBSCL, đỉnh lũ năm 1998 ở đầu nguồn sông Cửu Long tại trạm Tân Châu, Châu Đốc ở mức rất thấp (thấp nhất trong 73 năm), gây hệ lụy lớn đến nguồn nước và gia tăng hạn hán, xâm nhập mặn.
El Nino 2015-2016 có dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,6°C, nhiệt độ trung bình cao hơn 0,5-1,5°C, tổng lượng mưa thiếu hụt 20-40%, dòng chảy thượng nguồn sông Mê Công về ĐBSCL thiếu hụt khoảng 25-30%, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn ở mức lịch sử. Đợt hạn mặn này đã khiến 10/13 tỉnh ở ĐBSCL phải công bố tình trạng thiên tai. El Nino 2023-2024 đạt dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,0°C, nhiệt độ cao hơn 0,5-1,5°C, có nơi vượt 4,0°C. Xâm nhập mặn tại ĐBSCL xuất hiện sớm và cao hơn trung bình nhiều năm, nhưng mức thiệt hại thấp hơn giai đoạn 2015-2016.
Kịch bản ứng phó của ngành thủy lợi
Từ kinh nghiệm thực tiễn qua các đợt El Nino, ngành thủy lợi đã xây dựng các kịch bản nền cho từng vùng sản xuất nhằm ứng phó với các cấp độ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn khác nhau. Tại ĐBSCL, các kịch bản nền được xây dựng tương ứng với các tình huống nguồn nước trung bình (giai đoạn 2025-2026), ít nước (giai đoạn 2015-2016) hoặc rất ít nước (giai đoạn 2019-2020). Trên cơ sở theo dõi diễn biến nguồn nước thực tế tại các lưu vực sông, cơ quan chuyên môn sẽ nhanh chóng xác định mức độ rủi ro của từng khu vực để đưa ra cảnh báo và giải pháp phù hợp. Tại Trung Bộ và Tây Nguyên, việc tính toán dựa trên lượng nước tích trữ cuối mùa mưa tại các hồ chứa, dự báo lượng mưa, nắng nóng và bốc hơi nhằm xác định nguy cơ hạn hán cho từng địa phương. “Với dự báo xuất hiện “siêu El Nino” từ cuối năm nay, điều quan trọng nhất lúc này là hoàn thiện các kịch bản ứng phó và chuẩn bị sẵn sàng cho những diễn biến có thể kéo dài sang năm 2027”, ông Hùng nói.
Hướng tới nền nông nghiệp bền vững
Về dài hạn, ông Lê Năng Hùng khuyến nghị ngành nông nghiệp đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ và công nghệ sinh học để thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhiều đơn vị sản xuất và nông hộ đã triển khai mô hình lúa-tôm tại ĐBSCL - canh tác luân phiên tận dụng nước nhiễm mặn vào mùa khô để nuôi tôm, đợi mùa nước về để trồng lúa, giúp tránh thiệt hại do hạn mặn và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mô hình trồng lúa - tôm trên bán đảo Cà Mau đã tạo nền tảng đất tốt để cây lúa phát triển khỏe mạnh, cho thu hoạch sản phẩm gạo ST24 và ST25 từng đạt giải nhất cuộc thi “Gạo ngon nhất thế giới” năm 2025. Mô hình lúa-tôm là minh chứng sống cho triết lý “thuận thiên”, được Chính phủ khái quát trong Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhiều hợp tác xã tại tỉnh An Giang cũng áp dụng đồng bộ các giải pháp như giảm lượng giống gieo sạ, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý dịch hại tổng hợp và sử dụng phân bón hợp lý. Kết quả cho thấy lượng phát thải khí nhà kính giảm đáng kể, chi phí đầu vào giảm từ 10-20%, trong khi năng suất và chất lượng hạt gạo vẫn được duy trì hoặc nâng cao.
Theo PGS, TS Đào Thế Anh - Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam, nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thực hiện đồng thời ba mục tiêu: bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao thu nhập cho nông dân và giảm tác động đến môi trường. Bối cảnh này đòi hỏi một cuộc chuyển đổi căn bản từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao. “Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để thực hiện cuộc chuyển đổi này. Hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tiêu dùng xanh gia tăng và cam kết quốc tế về giảm phát thải đang tạo động lực thúc đẩy thay đổi. Thế nhưng, để mở rộng quy mô, cần tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong”, ông Thế Anh nói tại hội thảo “Nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu” ngày 24/6.
Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025 khuyến nghị doanh nghiệp vùng ĐBSCL phải coi thích ứng khí hậu, xanh hóa và quản trị dữ liệu môi trường là năng lực cạnh tranh cốt lõi. Mỗi doanh nghiệp chế biến phải kiểm soát điện, nhiên liệu, kho lạnh, nước thải, phụ phẩm và phát thải. Doanh nghiệp nông nghiệp phải đo lường phân bón, nước, đất, methane và truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp đầu chuỗi cần tổ chức vùng nguyên liệu, chuẩn sản xuất, hợp đồng đầu ra, dữ liệu chất lượng, bảo hiểm rủi ro và tín dụng theo chuỗi. Hợp tác xã cần chuyển từ vai trò hành chính sang đối tác kinh tế giúp tăng quy mô, chuẩn hóa nông hộ và kiểm soát chất lượng. Hiệp hội cần cung cấp thông tin thị trường, tiêu chuẩn, đào tạo, xúc tiến, đối thoại chính sách và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.



