Bà Thảo bất ngờ khi bị khấu trừ thuế 10% từ tiền bán đấu giá đất
Năm 2023, bà Thảo thế chấp một quyền sử dụng đất trống, không có công trình xây dựng để vay vốn ngân hàng. Đầu năm 2026, do kinh doanh khó khăn, mất khả năng thanh toán, bà và ngân hàng đồng thuận ký biên bản bàn giao tài sản bảo đảm và thỏa thuận xử lý nợ. Ngân hàng đã bán đấu giá thành công khu đất để thu hồi nợ.
Tuy nhiên, khi thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người trúng đấu giá, cơ quan thuế yêu cầu người mua kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng (VAT) với thuế suất 10%. Khoản thuế này được tổ chức đấu giá khấu trừ trực tiếp vào số tiền bán tài sản, khiến nghĩa vụ nợ của bà Thảo tại ngân hàng không được xử lý triệt để như tính toán ban đầu, đồng thời phát sinh thêm gánh nặng tài chính.
Bà Thảo đề nghị xem xét vì cho rằng tài sản thuộc diện không chịu thuế
Bà Thảo bày tỏ băn khoăn: “Tôi đã tìm hiểu và được cơ quan thuế viện dẫn Công văn số 13401/BTC-CST của Bộ Tài chính. Tôi cho rằng việc áp dụng như vậy chưa thực sự phù hợp, bởi tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của tôi tại thời điểm xử lý, do đó có thể thuộc trường hợp không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP. Tôi đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải đáp cụ thể vướng mắc nêu trên”.
Bộ Tài chính trả lời: Căn cứ Luật Thuế GTGT và văn bản hướng dẫn
Bộ Tài chính đã trả lời vấn đề này. Công văn 13401/BTC-CST ngày 28/8/2025 của Bộ Tài chính trả lời Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam về kiến nghị sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15.
Tại khoản 1 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 quy định người nộp thuế bao gồm: "1. Tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh)".
Tại khoản 24 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 2 Luật số 09/2026/QH16) quy định đối tượng không chịu thuế bao gồm: "25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có doanh thu năm từ mức quy định của Chính phủ trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách; Chính phủ quy định mức doanh thu năm tại khoản này phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ".
Tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 141/2026/NĐ-CP ngày 29/5/2026 của Chính phủ quy định: "1. Sửa đổi cụm từ "500 triệu đồng" thành "01 tỷ đồng" tại Điều 3, Điều 4, khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, khoản 3 Điều 11, khoản 1 và khoản 2 Điều 12, khoản 4 Điều 17, khoản 3 Điều 18 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP".
Tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 quy định về thuế suất: "3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số".
Về vấn đề này, Cục Thuế đã có Công văn số 4614/CT-CS ngày 22/10/2025. Bộ Tài chính đề nghị bà Thảo nghiên cứu quy định nêu trên và Công văn số 4614/CT-CS để thực hiện theo quy định của pháp luật.



