Ngày 8/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Bộ Nội vụ và các cơ quan về chất lượng nguồn lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm bền vững và đào tạo nhân lực. Tham dự có ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương; bà Phạm Thị Thanh Trà, Phó Thủ tướng Chính phủ cùng lãnh đạo các bộ, ngành.
Đánh giá chung về nguồn lao động
Tổng Bí thư nhấn mạnh chất lượng nguồn lao động là tài sản vô giá, yếu tố nền tảng cho cạnh tranh quốc gia. Đầu tư cho con người là chiến lược phát triển quốc gia. Việt Nam có lực lượng lao động đông, cần cù, ham học hỏi, nhưng lợi thế này chỉ phát huy khi chuyển hóa thành nhân lực chất lượng cao với kỹ năng, kỷ luật, năng suất và sáng tạo.
Mặc dù việc làm và thu nhập cải thiện, tỷ lệ thất nghiệp thấp, vẫn tồn tại nhiều hạn chế: lao động chi phí thấp không còn lợi thế dài hạn; thiếu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển; thiếu kỹ năng nghề, kỷ luật, tác phong công nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng số và xanh; lao động phi chính thức lớn, thất nghiệp thanh niên cao, cơ cấu đào tạo lệch, già hóa dân số nhanh; đánh giá chất lượng lao động còn coi trọng số lượng hơn chất lượng.
Nhiệm vụ tạo việc làm bền vững
Tại đô thị
Phát triển cầu lao động qua thúc đẩy sản xuất kinh doanh, kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, thương mại điện tử, dịch vụ chất lượng cao, kinh tế số và xanh. Quy hoạch phải gắn với mục tiêu tạo việc làm bền vững; thu hút đầu tư hướng tới dự án tạo việc làm năng suất cao, chuyển giao công nghệ.
Mở rộng khu vực việc làm chính thức, thu hẹp phi chính thức. Có chính sách hỗ trợ lao động phi chính thức, hộ kinh doanh chuyển sang khu vực chính thức, bảo đảm hợp đồng, bảo hiểm, bảo vệ quyền lợi và nâng cao kỹ năng.
Việc làm đô thị gắn với chất lượng cuộc sống: nhà ở công nhân, nhà ở xã hội, trường học, y tế, giao thông công cộng, thiết chế văn hóa tại khu công nghiệp. Chuẩn bị nhân lực cho dự án lớn, công trình trọng điểm, không để chậm tiến độ vì thiếu lao động có kỹ năng.
Tại nông thôn
Tạo việc làm tại chỗ, nâng cao giá trị trong nông nghiệp, chuyển từ sản xuất thô sang nông nghiệp công nghệ cao, xanh tuần hoàn, gắn với chế biến sâu, logistics, thương mại điện tử. Nông dân phải trở thành chủ thể chuỗi giá trị.
Phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề, OCOP, du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng, hợp tác xã kiểu mới, kinh tế hộ liên kết chuỗi. Đào tạo nghề gắn với sinh kế, thị trường đầu ra và thu nhập.
Có lộ trình chuyển dịch lao động nông thôn: hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng số, xanh, kỷ luật lao động, pháp luật, bảo hiểm. Mở rộng cơ hội làm nông nghiệp hiện đại, công nghiệp, dịch vụ tại chỗ, tham gia chuỗi giá trị vùng, làm việc đô thị hoặc đi nước ngoài.
Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Giáo dục nghề nghiệp gắn với sinh kế thực tế từng vùng, từng dân tộc, không áp đặt mô hình chung. Đánh giá hiệu quả qua việc làm, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập tăng. Tập trung phát triển nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu, thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng, thương mại điện tử.
Mở rộng kết nối thị trường, dịch vụ việc làm. Nhà nước hỗ trợ hạ tầng, tín dụng, đào tạo, tư vấn pháp luật; doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết bao tiêu, hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng thương hiệu. Chính quyền tổ chức kết nối việc làm an toàn, hạn chế di cư tự do, lao động bấp bênh, lừa đảo.
Việc làm gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, giữ rừng, giữ đất, giữ nước, giữ biên cương. Mục tiêu giúp đồng bào ổn định đời sống, giảm nghèo bền vững, tự tin hội nhập.
Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực
Đổi mới phân luồng, giáo dục nghề nghiệp, đại học ứng dụng, cao đẳng thực hành, trường nghề chất lượng cao, học nghề kép, học tập suốt đời. Xây dựng liên thông giữa các cấp học; nghiên cứu mô hình trung học nghề; nâng vị thế lao động thực hành giỏi.
Đào tạo theo nhu cầu, đặt hàng của doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương. Doanh nghiệp là trung tâm đặt hàng, thực hành và đánh giá chất lượng đầu ra trong liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.
Xây dựng chuẩn kỹ năng quốc gia, công nhận chứng chỉ, phát triển hồ sơ kỹ năng suốt đời. Chuyển bố trí ngân sách đào tạo từ số lớp, số người học sang tỷ lệ có việc làm, mức lương, mức độ hài lòng của doanh nghiệp, tỷ lệ làm đúng nghề, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội.
Phát triển đào tạo lại, đào tạo nâng cao, học tập suốt đời. Hỗ trợ người lao động thường xuyên học tập, tích lũy chứng chỉ, sẵn sàng chuyển nghề, đáp ứng số hóa, xanh hóa. Xác định nội dung đào tạo cụ thể cho từng ngành, trình độ, bao gồm công nghệ cao, xanh, dịch vụ hiện đại và nghề phù hợp nông thôn, vùng dân tộc thiểu số.
Mở rộng kênh tạo việc làm và nâng cao kỹ năng
Đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là kênh tạo việc làm, nâng thu nhập, rèn kỹ năng, tiếp cận công nghệ, quản trị hiện đại. Quản lý chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi.
Lao động về nước được kết nối với doanh nghiệp, khu công nghiệp, chương trình khởi nghiệp. Kỹ năng, vốn, ngoại ngữ tích lũy ở nước ngoài cần được công nhận, sử dụng, không lãng phí.
Có cơ chế thu hút, trọng dụng chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia nước ngoài, lao động kỹ thuật cao. Nguyên tắc: thu hút để học, thuê để chuyển giao, dùng để đào tạo người Việt làm chủ. Thu hút FDI gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển kỹ năng, nâng cấp vị trí lao động Việt trong chuỗi giá trị.
Tổ chức thực hiện
Giao Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo thực hiện ngay các nội dung:
- Xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực quốc gia và thị trường lao động hiện đại.
- Rà soát thực trạng chất lượng lao động, xây dựng bản đồ thiếu hụt lao động và kỹ năng theo ngành, vùng.
- Ban hành danh mục nghề trọng điểm cần đào tạo, ưu tiên công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, bán dẫn, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh.
- Triển khai chương trình tạo việc làm bền vững cho thanh niên, lao động nông thôn, đô thị phi chính thức, vùng dân tộc thiểu số, lao động bị tác động bởi chuyển đổi số.
- Hoàn thiện chính sách phát triển việc làm chính thức, hỗ trợ doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả đưa lao động đi nước ngoài; thu hút nhân tài.
- Xây dựng bộ chỉ số giám sát hằng năm về chất lượng lao động, việc làm bền vững, đào tạo, thu nhập, bảo hiểm xã hội và mức độ hài lòng.
Về dài hạn, xây dựng thị trường lao động hiện đại, minh bạch, linh hoạt, hội nhập; chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang nhân lực chất lượng cao; hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động; phát triển dịch vụ việc làm công hiện đại; hình thành hệ thống phân tích, dự báo nhu cầu nhân lực; xây dựng hệ thống đào tạo mở, học tập suốt đời.
Văn phòng Trung ương Đảng thông báo để các cơ quan liên quan biết, thực hiện.



