Ban hành ngày 4/5/2025, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo ra một đợt cải cách mạnh mẽ về thể chế và môi trường đầu tư, kinh doanh. Chỉ sau hơn một năm, nhiều chủ trương của Nghị quyết đã được cụ thể hóa bằng các luật, nghị quyết và cơ chế, chính sách mới.
Thể chế chuyển động mạnh mẽ
Ngày 17/5/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết 198/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, được xem là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và các mô hình khởi nghiệp sáng tạo. Cùng ngày, Chính phủ ban hành Nghị quyết 139/NQ-CP để triển khai nghị quyết này. Tiếp đó, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 tiếp tục ghi dấu bằng việc cắt giảm mạnh danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện xuống còn 199 ngành nghề từ ngày 1/7/2026, đồng thời chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.
Nhìn nhận những chính sách này, theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điểm nổi bật nằm ở sự thay đổi trong tư duy quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân. Nhiều quy định theo hướng giảm tiền kiểm, cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Những cải cách này không chỉ củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp mà còn tạo nền tảng để thu hút các dòng vốn đầu tư quy mô lớn, giúp khu vực kinh tế tư nhân từng bước trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.
Làn sóng đầu tư mới từ khu vực tư nhân
Sau khi Nghị quyết 68-NQ/TW được triển khai, làn sóng công bố các dự án đầu tư mới từ khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các tập đoàn lớn đã diễn ra mạnh mẽ. Nhiều dự án có quy mô chưa từng có. Cụ thể, mới đây, HĐND Thành phố Hà Nội đã thông qua chủ trương triển khai nhiều dự án quy mô lớn, trong đó có dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng với tổng mức đầu tư hơn 700.000 tỷ đồng và dự án khu đô thị thể thao Olympic có tổng vốn đầu tư gần 1 triệu tỷ đồng.
Không chỉ ở nhóm doanh nghiệp lớn, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực. Năm 2025, cả nước có gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so năm trước. Đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Đà tăng trưởng này tiếp tục được duy trì trong sáu tháng đầu năm 2026 với gần 152.700 doanh nghiệp thành lập mới và gần 61.500 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên hơn 214.200 doanh nghiệp. Bình quân mỗi tháng có hơn 35.700 doanh nghiệp thành lập mới và hoạt động trở lại. “Tinh thần kinh doanh và khát vọng phát triển của khu vực tư nhân đang được khơi dậy mạnh mẽ, cho thấy niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào môi trường đầu tư, kinh doanh sau những cải cách thể chế”, ông Tuấn nêu rõ.
Nâng cao chất lượng thực thi
Theo TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam (Công ty CP Tư vấn về Quản lý kinh tế), trong giai đoạn đầu triển khai, Nghị quyết 68-NQ/TW đã tạo ra bầu không khí lạc quan và kỳ vọng lớn trong cộng đồng doanh nghiệp. Tinh thần chờ đợi một làn sóng cải cách mạnh mẽ cùng các chính sách đột phá đã góp phần khơi dậy niềm tin của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, sự hứng khởi đó dường như tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp lớn. Tại khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh cá thể và khu vực kinh tế tư nhân phi chính thức hoặc bán chính thức, không khí tích cực ban đầu đang dần bị thay thế bởi tâm lý lo âu. Nhiều hộ kinh doanh hiện rất lo ngại về các vấn đề liên quan đến thuế, quy định kiểm tra hàng giả, hàng nhái cũng như các hoạt động thanh tra, kiểm tra trong quá trình kinh doanh.
Dẫn kết quả khảo sát của Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), ông Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban IV cho biết, hiệu ứng tích cực từ Nghị quyết 68-NQ/TW mới lan tỏa rõ nét đến một bộ phận doanh nghiệp lớn. Trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh chưa cảm nhận được những thay đổi đáng kể. Khoảng 70% số doanh nghiệp vẫn giữ tâm lý thận trọng hoặc bi quan về triển vọng kinh doanh.
Để Nghị quyết 68-NQ/TW phát huy hiệu quả rõ nét hơn trong giai đoạn tới, ông Minh cho rằng trọng tâm cần chuyển từ việc ban hành chính sách sang nâng cao chất lượng thực thi. Các cải cách phải thật sự giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và tiếp cận thuận lợi hơn với các nguồn lực phát triển. Đồng thời, việc phân cấp, phân quyền cần đi kèm với cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình và kỷ luật thực thi rõ ràng để tránh phát sinh thêm gánh nặng cho doanh nghiệp.
Còn theo ông Đậu Anh Tuấn, quyết tâm cải cách từ Trung ương đã rất rõ ràng. Song việc triển khai ở các bộ, ngành và địa phương vẫn chưa theo kịp. Điều quan trọng hiện nay là các cải cách phải được thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, lấy hiệu quả giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp làm thước đo. Trên thực tế, quá trình soạn thảo chính sách vẫn chủ yếu do các cơ quan quản lý trực tiếp thực hiện, khiến việc đề xuất các giải pháp cắt giảm quyền quản lý hoặc tăng tính minh bạch chưa thật sự khách quan. Vì vậy, cần nâng cao tính độc lập trong xây dựng chính sách, bảo đảm các quy định được thiết kế trên cơ sở lợi ích chung của nền kinh tế thay vì lợi ích quản lý của từng ngành. Đồng thời, cần tiếp tục cải cách mạnh công tác quản lý chuyên ngành, nhất là hoạt động kiểm tra chuyên ngành trong thông quan, nhằm giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Ông Tuấn cũng cho rằng, cần hoàn thiện cơ chế đánh giá đội ngũ thực thi công vụ theo hướng gắn kết quả hỗ trợ doanh nghiệp với công tác thi đua, khen thưởng. Nếu việc gây khó khăn cho doanh nghiệp không bị xử lý, thậm chí còn tạo lợi ích cho người thực thi, sẽ rất khó xây dựng được môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch và thuận lợi.



