Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn coi trọng hòa hiếu, nhân nghĩa, lấy chân thành và lòng tin làm nền tảng trong quan hệ với các dân tộc. Tinh thần “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” của Nguyễn Trãi cùng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về “thêm bạn, bớt thù” đã hun đúc nên phương thức đối ngoại giàu bản sắc, trong đó quan hệ nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Vai trò của đối ngoại nhân dân qua các thời kỳ
Qua các thời kỳ cách mạng, đối ngoại nhân dân đã góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, phá thế bao vây, cấm vận, mở đường cho bình thường hóa quan hệ và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đại hội XIV của Đảng mở ra giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn dài hạn, mục tiêu rõ ràng và quyết tâm chính trị cao, tạo nền tảng đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình. Trong bối cảnh đó, đối ngoại nhân dân tiếp tục phát huy vai trò là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, bên cạnh đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước.
Giá trị không thể thay thế của kênh nhân dân
Với ưu thế về đối tác rộng khắp, hình thức linh hoạt và gần gũi, đối ngoại nhân dân củng cố nền tảng xã hội của quan hệ giữa Việt Nam với các nước; tăng cường hiểu biết, tin cậy; huy động nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển; quảng bá hình ảnh đất nước; tham gia bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc từ sớm, từ xa.
Giá trị không thể thay thế của đối ngoại nhân dân nằm ở khả năng đi tới những nơi ngoại giao chính thức khó tiếp cận, nói bằng ngôn ngữ của lòng dân và tạo dựng lòng tin từ gốc. Không quan hệ nhà nước nào có thể bền vững nếu thiếu nền tảng xã hội vững chắc.
Sức mạnh riêng có của đối ngoại nhân dân
Đối ngoại nhân dân được triển khai bởi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, các tổ chức nhân dân, địa phương, doanh nghiệp, giới trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các tầng lớp nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
Chủ thể rộng, đối tác đa dạng, nội dung phong phú và phương thức linh hoạt là đặc trưng, đồng thời là lợi thế riêng có. Nếu đối ngoại Đảng định hướng chiến lược, xây dựng nền tảng chính trị; ngoại giao Nhà nước triển khai đường lối đối ngoại qua quan hệ chính thức, thì đối ngoại nhân dân đi sâu vào các tầng lớp xã hội, cộng đồng và từng con người cụ thể.
Sức mạnh của đối ngoại nhân dân trước hết là sức mạnh của lòng tin. Quan hệ giữa các quốc gia chỉ thực sự bền vững khi được nâng đỡ bởi sự hiểu biết, thiện cảm và ủng hộ của nhân dân. Mỗi người dân là một kênh đối ngoại, mỗi tổ chức, địa phương, doanh nghiệp và mỗi người Việt Nam ở trong, ngoài nước đều có thể trở thành một “sứ giả”, góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam hòa bình, hữu nghị, năng động và giàu bản sắc.
Những dấu ấn nổi bật trong thời gian qua
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước, công tác đối ngoại nhân dân đã có chuyển biến quan trọng. Quan hệ hữu nghị và hợp tác nhân dân với các nước tiếp tục được củng cố, mở rộng qua mạng lưới các hội hữu nghị song phương và các tổ chức thành viên của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, góp phần làm sâu sắc quan hệ với các nước láng giềng, bạn bè truyền thống và đối tác quan trọng.
Bên cạnh các chương trình giao lưu hữu nghị, ngày càng xuất hiện nhiều mô hình hợp tác gắn với kết nối địa phương, thương mại, du lịch, giáo dục, văn hóa, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường, đưa quan hệ hữu nghị vào những nội dung thiết thực với đời sống người dân.
Đối ngoại nhân dân phối hợp chặt chẽ với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, đóng góp vào việc triển khai các hoạt động đối ngoại cấp cao. Nhiều chương trình giao lưu hữu nghị, diễn đàn nhân dân, thanh niên, doanh nghiệp, học giả được tổ chức trước, trong và sau các chuyến thăm cấp cao, tạo không khí xã hội tích cực và cụ thể hóa các nhận thức chung thành chương trình hợp tác gần gũi với người dân.
Đối ngoại nhân dân đa phương và vận động nguồn lực
Hoạt động đối ngoại nhân dân đa phương có bước phát triển mới. Các tổ chức nhân dân Việt Nam ngày càng chủ động tham gia các diễn đàn, mạng lưới khu vực và quốc tế về hòa bình, phát triển bền vững, lao động, môi trường, biến đổi khí hậu, quyền con người; từng bước chuyển từ dự họp, trao đổi thông tin sang đóng góp sáng kiến, vận động quan điểm, xây dựng mạng lưới và tham gia định hình nội dung thảo luận. Qua đó, tiếng nói của nhân dân Việt Nam được truyền tải rộng rãi hơn, nâng cao hình ảnh một Việt Nam tích cực, có trách nhiệm.
Công tác vận động nguồn lực quốc tế đạt nhiều kết quả thiết thực. Hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, quỹ, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và mạng lưới chuyên gia đã huy động nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, nhất là tại các địa bàn còn khó khăn. Nguồn hỗ trợ không chỉ mang giá trị vật chất mà còn chuyển giao tri thức, kinh nghiệm, công nghệ và phương pháp tiếp cận mới trong y tế, giáo dục, giảm nghèo, bảo vệ môi trường và ứng phó thiên tai.
Thông tin đối ngoại và vai trò của kiều bào
Công tác thông tin đối ngoại, quảng bá văn hóa và hình ảnh đất nước được triển khai ngày càng sáng tạo. Các liên hoan, ngày văn hóa Việt Nam, chương trình giao lưu nghệ thuật, ẩm thực, du lịch, triển lãm và cuộc thi tìm hiểu đã đưa Việt Nam đến gần hơn với công chúng quốc tế. Các nền tảng số và mạng xã hội từng bước được sử dụng để mở rộng phạm vi tiếp cận, tăng tính tương tác, truyền tải câu chuyện chân thực về lịch sử, văn hóa và thành tựu phát triển.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục phát huy vai trò là bộ phận không tách rời và nguồn lực quan trọng. Với sự am hiểu sở tại, năng lực chuyên môn và mạng lưới quan hệ, kiều bào tham tích cực vào quảng bá hình ảnh Việt Nam, kết nối hợp tác, chuyển giao tri thức, công nghệ, đầu tư, kinh doanh, đồng thời vun đắp tình hữu nghị giữa Việt Nam với nhân dân các nước.
Yêu cầu đổi mới trước chuyển biến sâu sắc của thế giới
Bên cạnh thành tựu, công tác đối ngoại nhân dân còn hạn chế: việc gắn hoạt động hữu nghị với hợp tác phát triển chưa đồng đều; mạng lưới đối tác chưa đa dạng, khả năng tiếp cận thế hệ trẻ, học giả, chuyên gia và người có ảnh hưởng ở nước ngoài còn hạn chế. Năng lực hiện diện trên không gian số còn mỏng, trong khi đây là địa bàn trọng yếu của vận động dư luận. Việc đánh giá hiệu quả chưa bài bản, công tác nghiên cứu, dự báo và chất lượng đội ngũ cán bộ chưa theo kịp yêu cầu.
Tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp: cạnh tranh chiến lược gia tăng, xu hướng bảo hộ và bài ngoại diễn biến phức tạp. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và mạng xã hội thay đổi sâu sắc phương thức tác động dư luận. Kênh nhân dân, với tính chân thực và gần gũi, có lợi thế riêng để tạo dựng lòng tin trên không gian số nếu chủ động hiện diện, tương tác và dẫn dắt.
Đổi mới để phát huy sức mạnh tổng hợp
Đổi mới tư duy từ triển khai theo hoạt động sang tư duy chiến lược; từ phản ứng sang chủ động; từ ngắn hạn sang dài hạn; từ tiếp cận đơn lẻ sang hệ thống; từ chú trọng số lượng sang chất lượng, tác động và khả năng lan tỏa.
Trước hết, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị về đối ngoại nhân dân. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo, đưa nội dung đối ngoại nhân dân vào chương trình, kế hoạch công tác.
Hai là, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, gắn với các ưu tiên chiến lược: giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; bảo vệ độc lập, chủ quyền; thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Giao lưu hữu nghị cần gắn với hợp tác cụ thể về kinh tế, thương mại, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xanh.
Ba là, xây dựng mạng lưới đối tác đa tầng, đa lĩnh vực, bền vững; chủ động tiếp cận đối tác mới là thanh niên, học giả, nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân, nhà báo, nghị sĩ trẻ và người có ảnh hưởng trên không gian số. Tại các diễn đàn đa phương, cần chủ động đề xuất sáng kiến, tham gia xây dựng chương trình nghị sự, vận động sự ủng hộ; từng bước chuyển từ “tham dự” sang “đóng góp”, từ “đóng góp” sang “kiến tạo”.
Bốn là, tạo bước đột phá về thông tin đối ngoại và ngoại giao số trên kênh nhân dân: xây dựng mạng lưới học giả, chuyên gia, kiều bào, nhà báo, văn nghệ sĩ làm nòng cốt; thiết lập cơ chế phản ứng nhanh phản bác thông tin sai lệch; ứng dụng công cụ phân tích dữ liệu nắm bắt xu hướng dư luận; chủ động thiết kế thông điệp phù hợp với từng nhóm công chúng.
Năm là, đổi mới công tác đánh giá, coi đo lường hiệu quả là khâu bắt buộc. Xây dựng bộ tiêu chí và cơ sở dữ liệu theo dõi tác động, thay cho đánh giá thiên về số lượng. Kết quả đánh giá là căn cứ tham mưu chủ trương, lựa chọn đối tác, phân bổ nguồn lực và nhân rộng mô hình hiệu quả.
Sáu là, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa ba trụ cột đối ngoại. Cần phối hợp từ xây dựng chủ trương, lựa chọn đối tác, tổ chức hoạt động đến đánh giá kết quả; xác định rõ nội dung và lực lượng đối ngoại nhân dân tham gia trong các hoạt động đối ngoại quan trọng.
Đổi mới đối ngoại nhân dân đòi hỏi quyết tâm chính trị, tư duy chiến lược và sự phối hợp đồng bộ. Giữa một thế giới biến động, giá trị bất biến của kênh nhân dân vẫn là lòng tin và sự gần gũi giữa con người với con người. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước, đối ngoại nhân dân sẽ tiếp tục là nhịp cầu hữu nghị bền vững, kênh quan trọng hội tụ nguồn lực, lan tỏa sức mạnh mềm và bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, góp phần kiến tạo sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
NGÔ LÊ VĂN
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao



